tóm tắt tiểu sử của hoạ sĩ nguyễn gia Trí

Thứ tư - 19/02/2014 04:26

Nguyễn Gia Trí

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nguyễn Gia Trí (1908 - 1993), hoạ sĩ, nhà đồ hoạ, biếm hoạ Việt Nam. Ông quê ở huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Nội. Một trong những hoạ sĩ hàng đầu có những đóng góp cho những bước khởi nguyên và sự phát triển của nền mỹ thuật hiện đại Việt Nam thế kỉ 20. Ông cùng với Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn là bốn cây đại thụ của nền mỹ thuật hiện đại của Việt Nam (nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn).

[sửa] Tiểu sử

Tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mĩ thuật Đông Dương năm 1936, ông là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là "người cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam". Ông Nguyễn Gia Trí là một trong những họa sĩ nổi tiếng đi đầu trong việc tạo ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho Việt Nam, với những đường nét vẽ thanh lịch và những tư tưởng mới về nghệ thuật sơn mài. Ông phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo những bức họa hiện đại mang đầy tính chất dân tộc. Những tác phẩm của ông có thể tìm thấy trong viện Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam tại Hà Nộiviện Bảo tàng Mỹ thuật tại Sài Gòn.
Những bức tranh đầu tiên mang nhiều dấu ấn của chủ nghĩa hiện thựcấn tượng Châu Âu:
  • Hoàng hôn trên sông,
  • Phong cảnh Móng Cái.
Vào thập niên 40 thế kỉ 20, khi chuyển sang sáng tác chuyên về chất liệu sơn mài, đã tạo ra được một phong cách riêng. Chủ đề quen thuộc là những thiếu nữ duyên dáng, nhàn tản trong khung cảnh thiên nhiên thơ mộng. Với chất son, sơn than, vàng, bạc, vỏ trứng, sơn cánh gián, Nguyễn Gia Trí đã tạo cho tranh sơn mài một vẻ đẹp lộng lẫy, một chiều sâu bí ẩn, đưa kĩ thuật sơn mài lên đỉnh cao, khẳng định tầm quan trọng của chất liệu hội hoạ này trong nền mĩ thuật Việt Nam:
  • Đình làng vào đám (1939),
  • Thiếu nữ bên cây phù dung (1944).
Những năm 1960 ÷ 1970, nghệ thuật của ông có xu hướng thiên sang trừu tượng. Tuy vậy, cuối đời ông lại trở về với thế giới lãng mạn đầy mộng mơ của những năm 40: bức tranh Bắc, Trung, Nam.
Bức tranh Thiếu nữ trong vườn được trình bày như vườn hoa muôn sắc màu, trong đó các cô gái đang vui đùa, chạy nhảy, giá trị hiện thực toát lên từ hình khối, động tác. Sắc vàng kim được dát trên nền trời, trên những tấm áo điểm xuyết vỏ trứng, những vệt vàng lộng lẫy trên từng đường lượn như tôn vẻ đẹp thanh tân thiếu nữ. Ở những tranh sơn mài có kích thước lớn, Nguyễn Gia Trí luôn mở rộng tầm nhìn thẩm mỹ, đặt cái cổ kính bên cạnh cái tân kỳ, cái lộng lẫy sang trọng cạnh sự giản dị mộc mạc, ý tưởng hy vọng đặt bên cạnh sự hoài niệm... Đó cũng là cách xử lý khi thể hiện mặt bên kia của tấm bình phong mang tên Phong cảnh có cách vẽ khoẻ khoắn, những mảng vỏ trứng, hình cây điển hình được viền bằng những mảng mầu to rộng, nét chắc khoẻ gợi về sự gần gũi chân quê của vùng nông thôn Bắc Bộ Việt Nam.
Nguyễn Gia Trí còn là một nhà biếm hoạ sắc sảo, bút danh Raitơ (Right) với những tranh châm biếm chính quyền thực dân Pháp và đám quan lại phong kiến tay sai trên báo Phong hoá, báo Ngày nay. Ông là nhà đồ hoạ nổi tiếng với những tranh khắc gỗ màu mang đậm màu sắc dân gian:
  • Ai mua rươi ra mua,
  • Kẻ khó không lo ba ngày Tết
và những minh hoạ sách báo phóng khoáng đầy chất hiện thực.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường làm tranh không hết hợp đồng, hầu hết khách đặt tranh là những tỷ phú Nam Phi, Nam Mỹ. Họ đến xin ông vẽ những tranh khổ lớn và không yêu cầu về hình thức nghệ thuật, tùy ông muốn. Tranh ông bán đo bằng ca-rê. Ở Việt Nam các họa sĩ trong lịch sử Hội họa hiện đại có duy nhất danh họa Nguyễn Gia Trí bán tranh tính bằng ca-rê và luôn phải từ chối đơn đặt hàng của khách.
Họa sĩ lúc sinh thời đã có nguyện vọng giữ lại ba bức tranh : "để cho thế hệ mai sau nghiên cứu". Đó là 3 bức tranh sơn mài khổ lớn lưu tại Thư viện quốc gia TP Hồ Chí Minh mà vợ Ngô Đình Nhu mua định tặng Nhật Hoàng, nhưng ông yêu cầu phải để lại trong nước. Những năm 70 của thế kỷ 20, tài chính của Nguyễn Gia Trí tới hàng nghìn cây vàng. Nhưng đến khi nhắm mắt ,xuôi tay, ngoài vài tấm tranh, tài sản của ông chẳng có gì đáng kể, tất cả đã được họa sĩ dành cho nghệ thuật!
Các tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã được chỉ định là Bảo vật Quốc Gia. Vì thế, những tác phẩm của ông đã không được phép rời khỏi Việt Nam.
Danh hoạ Nguyễn Gia Trí từ trần lúc 22 giờ 30 phút ngày 20/6/1993 tại Sài Gòn. Gia đình làm lễ khâm liệm vào ngày 21/6/1993.
Một số lời nói của ông: "Làm và đọc nhiều thứ làm cho tán lực. Mắt nhìn và tai nghe, mỗi thứ có diệu dụng. Khổng Giáo chữa bệnh ngoài da. Phật Giáo chữa bệnh trong cốt tủy. Chữ hiếu trong Đạo Phật khác Khổng. Tu cũng là hình thức báo hiếu cha mẹ, cả cha mẹ các đời trước." "Cái danh nó ràng buộc mình. Tự cho là mình giỏi thì không tiến được nữa". "Muốn có phòng tranh đi Paris, ấy là vọng. Sống với cái giả, hại gốc." "Tôi sáng tác bằng tâm linh"
Nguyễn Gia Trí (1908-1993)
 
Nguyễn Gia Trí (1908-1993) sinh tại tỉnh Hà Tây.Ông là sinh viên của trường đại học nổi tiếng Indochina Fine Arts College (1931-1936), ông được xem là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là "Vua sơn mài"Từ khi ông mất,ngôi "Vua sơn mài" vẫn còn bỏ trống và rất khó có ai có thể "lên ngôi" thay thế ông được. Sinh thời,Bùi Xuân Phái rất ngưỡng mộ tài năng và phẩm chất kiên dũng trước bạo quyền của Nguyễn Gia Trí,và xem ông như bậc đàn anh đáng kính nhất trong làng hội họa Việt Nam.
Ông Nguyễn Gia Trí là một trong những họa sĩ nổi tiếng đi đầu trong việc tạo ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho Việt Nam, với những đường nét vẽ thanh lịch và những tư tưởng mới về nghệ thuật sơn mài. Ông phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo nên những bức họa hiện đại mang đầy tính dân tộc. Những tác phẩm của ông có thể tìm thấy trong Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam tại Hà Nội và Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật tại Sài Gòn. Tác phẩm của Nguyễn Gia Trí đã được chỉ định là Bảo Vật Quốc Gia. Vì thế, những tác phẩm của ông đã không được phép rời khỏi Việt Nam.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường làm tranh không hết hợp đồng, hầu hết là những đại gia có máu mặt đặt tranh, đó là những tỷ phú Nam Phi, Nam Mỹ. Họ đến xin ông vẽ những tranh khổ lớn và không yêu cầu về nội dung hay hình thức nghệ thuật, tùy ông muốn và không có chuyện tham gia góp ý kiến vào tác phẩm của ông. Tranh ông bán đo bằng ca-rê (phân vuông,tranh kích thước càng lớn thì giá tiền cứ theo đó mà nhân lên). Ở VN các họa sĩ trong lịch sử Hội họa hiện đại có duy nhất danh họa Nguyễn Gia Trí bán tranh tính bằng ca-rê và luôn phải từ chối đơn đặt hàng của khách.Trường hợp này đúng với nguyên tắc : phải có khách hàng lớn mới có nghệ sĩ lớn.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí lúc sinh thời đã có nguyện vọng giữ lại ba bức tranh : "để cho thế hệ mai sau nghiên cứu". Đó là 3 bức tranh sơn mài khổ lớn lưu tại Thư viện quốc gia TP Hồ Chí Minh mà vợ Ngô Đình Nhu mua định tặng Nhật Hoàng, nhưng ông yêu cầu phải để lại trong nước. Những năm đỉnh cao của năng lực sáng tạo, tài chính của ông lên tới hàng nghìn cây vàng. Nhưng đến khi nhắm mắt ,xuôi tay, ngoài vài tấm tranh cỡ nhỏ, tài sản của ông chẳng có gì đáng kể, tất cả đã được họa sĩ dành cho nghệ thuật! Tất cả đã được người nghệ sĩ Để gió cuốn đi.
 
Hoàng Hưng
Nguyễn Gia Trí, bậc đạo sư của sơn mài nghệ thuật
(Kỉ niệm 15 năm ngày mất của hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí 20.6.1993-20.6.2008)
 
“Tôi làm sơn mài từ khi nó mới có, nên tuổi của tôi cùng tuổi với sơn mài. Tôi sống với nó như cá sống với nước nên không biết mình sống nữa”. Đó là lời họa sĩ Nguyễn Gia Trí nói với họa sĩ trẻ Nguyễn Xuân Việt, người mà ông nhận làm đệ tử vào những năm cuối đời. [1]

Đã 90 năm từ ngày cậu Trí ra đời trong một làng quê vùng đá ong Bắc Bộ (làng An Tràng, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông). Giấy CMND của ông sau này ghi ông sinh ngày 6 tháng 10 năm 1912, nhưng ông Trí cùng mọi người thân đều khẳng định ông sinh năm 1908 (Kỷ Dậu). Không có tài liệu nói rõ về gia thế ông. Sinh thời ông Trí chỉ kể sơ với vợ con: cụ tổ Nguyễn Gia Phúc là người chuyên thêu y phục triều đình, đến đời ông thân sinh là Nguyễn Gia Cư còn làm công việc ấy. Chỉ riêng một việc: ba anh em ruột Nguyễn Gia Tường là giáo sư nổi tiếng của Collège Bưởi, Nguyễn Gia Trí học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ngành hội hoạ (theo hoạ sĩ Hoàng Tích Chù [2] thì ông Trí học Collège Bưởi rồi thi ngay vào CĐMT, bà Trí lại cho biết chồng mình có kể rằng ông đã theo học trường Y một thời gian rồi mới bỏ đi học vẽ), Nguyễn Gia Đức học CĐMT ngành Kiến trúc (và sau này trở thành một kiến trúc sư hàng đầu), cũng khiến ta hình dung được môi trường văn hoá gia đình rất thuận lợi cho một người đi vào con đường nghệ thuật.

Tài năng của Trí nhanh chóng nổi bật trong trường cùng với tính khí có phần ương bướng của ông. Vào trường năm 1928 nhưng ông bỏ học ở năm thứ hai. Theo HS Hoàng Tích Chù thì hiệu trưởng Victor Tardieu [3] phục tài người sinh viên này nhưng không ưa anh, những lần có khách vào thăm trường, ông ta thường cố ý đứng che tranh của anh. Vậy mà mấy năm sau, chính ông lại là người chủ động gọi anh về học lại. Ông Trí kể: “Học đến năm thứ hai tôi không chịu được nhà trường nên bỏ. Sau vì có khoa sơn mài nên học lại. Giờ académique (vẽ hàn lâm) buổi sáng là một cực hình. Chỉ mong đến chiều để làm sơn mài.” Vậy là Nguyễn Gia Trí lại trở thành sinh viên khoá 7 Trường CĐMT Đông Dương (1931 - 1938). Và chính trong thời gian này, cùng với một số bạn đồng học, ông đã mở ra con đường đưa “sơn ta” của mỹ nghệ truyền thống trở thành “sơn mài” - chất liệu hội hoạ đặc sắc của Việt Nam.

Có nhiều giai thoại về tài năng của Nguyễn Gia Trí nắm bắt rất nhanh thực tại và thể hiện cái thần của nó trong vài nét bút. HS Hoàng Tích Chù hay kể về chuyến đi ký họa Chợ Bờ. Cả lớp đi từ sáng sớm, riêng Trí thì quá trưa mới tới, ngồi sau xe đạp một người bạn. Anh đảo một vòng rồi đi về. Ông thầy Inguimberty [4] - người rất yêu quí Trí và Trí thường gọi là "Cụ I" - hỏi bài vẽ đâu, Trí rút trong túi áo ra một mảnh giấy: chỉ vài nét, cảnh Chợ Bờ hiện lên sinh động hơn tất cả các bức vẽ tỉ mỉ của những người khác. Sau này, người ta đón đợi hàng ngày những minh hoạ, hí họa kỳ tài của Nguyễn Gia Trí trên các báo Ngày nay, Phong hoá như "Ai mua rươi ra mua", hay chân dung Thống sứ Châtel... Những phác hoạ lá sen tàn sống động đến từng gân lá gãy, những dáng thiếu nữ "tân thời" uyển chuyển đầy gợi cảm... Tất cả đều ở trình độ bậc thầy về tả thực. Điều quí nhất là những hình họa tuyệt vời của Nguyễn Gia Trí sẽ trở thành "than cho Trí dùng quanh năm" như Inguimberty nói đùa [5] , tức là những tài liệu để ông bố cục các tác phẩm sơn mài. Trong những tác phẩm này, mặc dù được thể hiện cách điệu, những lá tre, cành tùng, bông sen, đôi bướm vờn, những dáng người đi, đứng, nằm... không những rất thực mà còn rất sống động trong vẻ tự nhiên tươi mưởi của những ký hoạ trực tiếp. Chính đó là yếu tố đầu tiên khiến cho sơn mài Nguyễn Gia Trí có tư cách hội hoạ nghệ thuật, thoát khỏi thân phận trang trí với các hình hoạ nhạt nhẽo vô hồn.

Song những sáng tạo của ông về chất liệu mới thực sự làm nên cuộc cách mạng sơn mài.

“Tranh không có đề tài. Đề tài chính là chất liệu sơn mài." Câu ấy ông Trí nói sau nửa thế kỷ sống với sơn mài. “Cái lý riêng" của sơn mài ông đã “ngộ" ngay từ buổi sơ duyên. Ông kể: “Khi đi học tôi làm phác thảo sơn mài một tuần không được. Ông thầy hỏi: Cảnh Hòn Gai đấy hả? Vì thấy trời đen đất đen. Lúc ấy tôi cũng tự hỏi: Sao ngói đỏ tường trắng mà trời đen đất đen? Và tôi chợt hiểu ra: Sơn mài có cái lý riêng của nó. Sơn mài khác hẳn sơn dầu.".

Thực tình, ông Trí còn phải trải qua những chiêm nghiệm trong lao động nghệ thuật mới thấm thía đến máu thịt cái chân lý ấy. Nên biết rằng tuy ông không vẽ nhiều sơn dầu, nhưng những tác phẩm chất liệu ấy của ông được đồng nghiệp đánh giá rất cao, và những kỹ năng sớm đạt tới đỉnh về bố cục, tạo không gian ba chiều... trong khi nghiên cứu sơn dầu đã đóng góp không nhỏ vào thành công của ông ở sơn mài.

Một tác giả người Pháp chuyên viết về mỹ thuật Việt Nam đương thời đã nhận xét: Nguyễn Gia Trí có một giai đoạn ngắn dường như cố gắng làm cho sắc độ của con người, cây cối, thú vật, quần áo trong tranh ông đạt được sự chân thực hoàn hảo. Nhưng ông đã nhanh chóng từ bỏ nỗ lực ấy để chỉ chú tâm vào các phương tiện của sơn mài. Và tác giả khẳng định, ý tưởng chủ chốt của Nguyễn Gia Trí: nâng sơn mài lên trình độ của sơn dầu không có nghĩa là vẽ tranh sơn dầu bằng chất liệu sơn mài. [6]

Sơn mài khác hẳn sơn dầu ở chỗ mặt tranh phẳng gần như tuyệt đối. “Con ruồi đậu trên vóc cũng làm vóc lún xuống" (Nguyễn Gia Trí). Không gian của nó lặn vào bên trong rất sâu, đó là “tính âm" của nó, cũng như các màu cơ bản vàng - son - đen (then) theo ông Trí là các màu “ngả về âm” - màu của không gian đình chùa cung điện xưa, và nhịp của nó là nhịp chậm - sơn mài hình thành từ từ qua từng công đọan vẽ, sơn, ủ, mài... Và chính những đặc điểm ấy tạo ra thách đố rất gay gắt đối với những ai đã học kỹ thuật sơn dầu, là thứ chất liệu đòi hỏi sự truyền cảm trực tiếp, bộc phát vào những “touche, tache” (nét, mảng) gồ ghề đầy “tính dương”.

Không riêng một mình Nguyễn Gia Trí đã phát triển bảng màu của sơn mài để nó đủ sức diễn tả thực tại phong phú trước mắt người hoạ sĩ, ông cũng không phải người duy nhất có ý thức dùng sắc độ để tạo nông sâu trên mặt phẳng sơn mài, nhưng ông là người đã đẩy những tìm tòi ấy đến mức tuyệt kỹ để trực truyền mọi cảm xúc, rung động mãnh liệt hay tinh tế đến mức “người với tranh là một không còn phân biệt" và mở ra thế giới rộng lớn qua “cánh cửa rất hẹp”, hẹp đến khe khắt của sơn mài.

Những lời bình luận sau đây của HS Tô Ngọc Vân giúp ta hình dung sức truyền cảm ma quái của “sơn ta” dưới bàn tay phù thủy Nguyễn Gia Trí: “Trên những màu hồng nhợt biến hoá, những sắc nâu ngon thiệt là ngon, những vỏ trứng như đổi cả thể chất thành quí vật, vài nét bạc, vài nét vàng sáng rọi, rung lên, rít lên như tiếng kêu sung sướng của xác thịt khi vào cực lạc. Chàng nghệ sĩ ấy yêu tấm sơn như ta có thể yêu một người đàn bà. Lúc âu yếm bằng những nét vuốt ve mềm mại, lúc dữ dội bằng năm bảy nét quệt mạnh đập tung, cào cấu"... “Trong những hình sắc ấy như ẩn hiện một chút gì huyền ảo, đắm say, nồng nàn còn run rẩy trong bóng tối hoà với máu, một sức sống còn bế tắc, một linh hồn kiên quyết, đam mê, đang quằn quại vì muốn thoát nhanh ra ngoài ánh sáng." [7]

Trong các tuyệt kỹ của Nguyễn Gia Trí, nhiều hoạ sĩ sơn mài bái phục tài “luyện vỏ trứng”. Dưới tay ông, vỏ trứng từ một vật cứng trở thành mềm mại và tạo ra đủ sắc thái của màu và ánh sáng trắng. Lúc như một thứ men rạn cổ kính, lúc loé lên trên nền đen như được soi bằng những ánh đuốc đêm hoa đăng, lúc đông đặc như cẩm thạch, lúc kết tinh như kim cương, lúc mỏng mờ như trận mưa các giọt sữa, lúc rờn rợn bóng tối hư ảo trên tường rêu đêm Bồ Tùng Linh... Cho đến nay chưa ai học được bí quyết “mài bạt" vỏ trứng của ông. Đó cũng là một lý do người ta khẳng định không ai có thể làm giả một tác phẩm sơn mài Nguyễn Gia Trí.

Về cuối đời, ông có đôi lần bộc lộ với người đệ tử gần như duy nhất của mình phương châm xử lý vỏ trứng: “Mài đứt, phá hết các tướng cũ của vỏ trứng rồi nối lại. Luôn luôn phá hết các tướng hiện ra, phá tướng, không phải thêm tướng. Bớt nữa, bớt mãi, đứt nữa, đứt mãi để cho vỏ trứng có triển vọng đẹp còn lại."

Phương châm là thế, nhưng thực hiện thế nào đó là điều không thể dạy. Mài đến đâu thì ngừng, đến đâu thì đạt hiệu quả tối ưu, tất cả phụ thuộc cảm nhận tức thời của họa sĩ. Năng lực cảm nhận ấy là quyết định, vì Nguyễn Gia Trí tin rằng “chất liệu sơn mài có nhiều ngẫu nhiên", nó “hiện lên như thiên thành".

Niềm tin nói trên có nguồn gốc sâu xa ở quan niệm tâm linh của ông về sáng tạo nghệ thuật: “Tìm tòi và sáng tạo với tất cả linh tính. Không phải sáng tạo bằng mắt, bằng tay, mà gần như người mù sờ soạng, mò mẫm trong đêm tối để tìm cái đẹp. Như người mẹ mang thai không thể bắt con mình là gái hay trai, đẹp hay xấu, mà cầu mong ở con người mình, ở chính phúc đức và chính thể chất của mình sẽ sinh ra đứa con lành lặn đẹp đẽ.”

Vì nguyên lý ấy, trong qui trình thực hiện một tấm sơn mài, ông Trí chỉ dùng thợ để lên kín các hình phác thảo của mình và mài phẳng, qua ba đợt, để rồi chính tay ông mài phá, xoá và sửa cả ba lần rồi mới làm lại lần cuối. Bà Trí [8] kể: Có lần đêm rất khuya thấy ông ngồi trong bóng tối mài tranh, bà hỏi thấy gì mà mài, ông trả lời: “Tôi đâu có vẽ bằng mắt."

Hầu như không bao giờ Nguyễn Gia Trí thoả mãn với bức tranh. Tác phẩm nào ông cũng coi như một thử nghiệm, một "bài tập" để khám phá sơn mài. Đổ bao nhiêu vàng bạc vào tranh, ông không đắn đo, nhưng ông cũng không do dự phá bỏ hết để làm lại. Không chỉ một lần bà Trí phải đem giấu tranh đi để giao cho khách, nếu không ông vẫn đòi sửa tiếp. Có khi tranh bà đã giao đi một tuần rồi ông còn hỏi tranh đâu? Ông Trí nói: “Phải đi qua cái hỏng thì mới đến cái được. Ở chỗ mấp mé." Chỗ mấp mé là chỗ của nghệ thuật, giữa vụng và khéo, giữa đủ và thiếu, giữa xong và chưa xong. Đó cũng là chỗ của người thấm nhuần đạo âm dương, lẽ biến dịch của phương Đông.

Cái mốc đầu tiên đánh dấu việc sơn mài Việt Nam chính thức gia nhập nền hội hoạ là cuộc triển lãm năm 1938 do Trường CĐMT Đông Dương tổ chức. Đứng trước các tác phẩm của Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân đã tự hào khẳng định: Lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở đó, ở tâm hồn người ấy ra, nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng." [9]

Những năm sau đó là thời kỳ tìm tòi sáng tạo đầy sung mãn của Nguyễn Gia Trí để hoàn thiện kỹ thuật và phong cách riêng của mình. Ông lập xưởng vẽ riêng ở làng Thịnh Hào, Ngã Tư Sở (Một điều thú vị là những thợ mài của Nguyễn Gia Trí lúc ấy sau này đều nổi tiếng trong các ngành nghệ thuật: Kim Lân nhà văn, Nguyễn Trọng Hợp họa sĩ, Nguyễn Đăng Bảy nhà quay phim).
 

Những năm 1940 Nguyễn Gia Trí là hoạ sĩ thành công nhất ở Việt Nam. Tác phẩm của ông được tính giá theo tấc và hầu như chỉ dân Tây thượng lưu có khả năng mua. Họ đặt tranh ngay từ khi mới trông thấy phác thảo. Hai vợ chồng Công sứ Cresson xắn quần nhấc váy lội nước vào làng Thịnh Hào để lấy tranh. Họ gọi ông là “Génie Asiatique” (Thiên tài châu Á). Họ bảo lãnh ông ra khỏi nhà tù khi ông bị bắt vì hoạt động chống Tây (Theo HS Hoàng Tích Chù thì ông Trí bị bắt quả tang chứa vũ khí trong xưởng vẽ, những vũ khí chính ông mua bằng tiền bán tranh cho Tây. Theo nhà báo Trần Phong Giao thì ông bị Tây bắt tới ba lần, lần cuối bị đưa vào Nam an trí ở Thủ Dầu Một. Song lúc này ta hãy tạm chưa nói đến Nguyễn Gia Trí nhà chính trị để tập trung nói về Nguyễn Gia Trí con người yêu nước trong nghệ thuật). [10]

Những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Gia Trí từ 1938 đến trước 1945 thường được nhắc đến là: "Chợ Bờ", "Bên Hồ Gươm", "Chùa Thầy", "Đèn Trung thu", "Đêm Bồ Tùng Linh"," Khoả thân", "Cảnh Thiên Thai" (đây là tấm tranh khổ lớn được Toàn quyền Đông Dương Decoux đặt làm sau khi ông Trí ra khỏi trại giam Vụ Bản năm 1943, một số tài liệu nói là hiện vẫn còn trong Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, song nhiều người theo dõi sát về mỹ thuật cho biết là sau 1954, khi ta tiếp quản thủ đô tranh ấy đã biến mất rồi), "Thiếu nữ bên hoa phù dung" (Sau 1954 tranh này thuộc tài sản của nhà sưu tập Đức Minh, một thời gian dài được Phủ Chủ tịch mượn để treo trong phòng khách của Hồ Chủ tịch, hiện nằm trong sưu tập của ông Bùi Quốc Chí, con trai ông Đức Minh đã quá cố, ở TPHCM), "Thiếu nữ trong vườn (tác phẩm cỡ lớn nhất trong cả đời sáng tác của Nguyễn Gia Trí, gồm 6 tấm, tổng cộng 12 m2, bán cho ông bà Drouin, Giám đốc Sở Điện Nước miền Bắc Đông Dương), "Thiếu nữ bên hồ sen", "Giáng sinh"...

Đề tài và tinh thần chủ đạo của các tác phẩm Nguyễn Gia Trí trong giai đoạn này, theo nhận xét của tạp chí Indochine: [11] “Chúng dìu ta trên cánh mộng qua những truyền thuyết Việt Nam hay vào một không gian đẫm nhục cảm... Hoa, thiếu nữ và thơ, nhạc, ẩn chứa trong một chất liệu lơi lỏng một cách cố ý". Tác giả người Pháp còn cho rằng “những người đàn bà này (nhân vật của Nguyễn Gia Trí) gợi lên vẻ thanh lịch của một Watteau hoạ sĩ Pháp 1684 - 1721), sự nhẹ nhõm của một bức phác hoạ thế kỷ 18 của Pháp, những sức xuân thần kỳ của một Botticelli (hoạ sĩ Ý 1445 - 1510)".

"Thiếu nữ bên hồ sen" là tác phẩm khổ 1,2 m x 2,4 m, được làm vào khoảng năm 1940. Lúc ấy Nhật mới vào Việt Nam, một thời gian khó khăn về nguyên liệu, không có gỗ mít để làm vóc nên tấm tranh này chóng bị nứt. Nó đã vào Sài Gòn từ trước 1945, thuộc tài sản của ông Vũ Văn Hải (sau trở thành Đổng lý Văn phòng của ông Ngô Đình Diệm), và được đích thân HS Nguyễn Gia Trí sữa chữa vào năm 1963 (ông có ký tên xác nhận việc ấy ngay trên tranh). Sau 1975, vợ chồng hoạ sĩ Bùi Quang Ngọc vét hết tiền mặt và bán chiếc xe Honda PC, tài sản duy nhất có giá trị trong nhà, để mua lại bức tranh này (tức là tổng cộng khoảng vài chỉ vàng). Tiếc rằng mấy chỗ nứt không khắc phục được, song mặt tranh vẫn giữ được màu sắc và nguyên vẹn các hoạ hình thể hiện tài năng đang hồi sung sức của Nguyễn Gia Trí.

Tác phẩm là minh chứng rõ rệt tinh thần cân bằng, hài hoà mà ông Trí vẫn chủ trương: “Nghệ thuật là sự thăng bằng. Tình cảm thăng bằng, bố cục thăng bằng.”

Trên cái nền sương khói tạo bởi “teng” bạc (bạc oxy hoá qua thời gian, một thứ “thiên thành” như đồ cổ lên nước) hiện lên từng lớp cây lá nhiều vẻ - trong đó những chiếc lá sen tàn được thể hiện thần tình, mỏng tang với những gân mảnh tinh tế đến khó tin. Sau cành lá thưa, một tốp người nữ bố cục thành một nửa vòng: ở tiền diện bên trái là một thiếu phụ tay vịn cành, lả mình để tay kia vươn hái một bông sen, phía bên phải tranh, hơi lui vào là một thiếu phụ ngồi chống một chân, tay cầm quạt, cả hai đều có vẻ mặt và tư thế thanh lịch và thư thái, đàng sau người cầm quạt là hai chị em gái nhỏ tuổi chạy chơi. Tốp này làm thành một vòng tĩnh và nửa động phía ngoài để rồi trung tâm bức tranh cuốn người xem vào ba cô thiếu nữ uyển chuyển ở ba vị trí tạo ra cảm giác xoay vòng ngây ngất: cô thứ nhất ngoảnh 2 phần 3 ra phía trước, cô thứ hai quay nghiêng nửa người và cô thứ ba gần như hoàn thành vòng xoay với gần hết phía sau quay ra ngoài, phần mông nảy tròn và đuôi tóc dài hất lên. Ba cô gái được tôn hẳn lên trên nền đen sâu thẳm của không gian trống - trời và nước. [12]

Những yếu tố căn bản của sơn mài Nguyễn Gia Trí đã thấy rõ trong tác phẩm này: Sự tôn vinh vẻ đẹp hài hoà tinh thần với nhục thể của các thiếu nữ "tân thời" áo dài thon thả phơi phới giữa thiên nhiên dào dạt - đặc biệt vòng “rondo ba cô gái" sẽ trở thành mô-típ tiêu biểu của các bố cục “phụ nữ trong vườn” theo đuổi ông cho đến hết cuộc đời. Một chi tiết nên biết: nguyên mẫu thiếu phụ cầm quạt trong tranh là “Cô Sáu” cũng chính là người mẫu cho HS Tô Ngọc Vân vẽ bức "Thiếu nữ bên hoa Lys". (Không biết cô có quan hệ gì hơn nữa với HS Nguyễn Gia Trí hay không, nhưng HS Hoàng Tích Chù lúc vui chuyện có kể rằng bà mẹ của ông Trí rất nghiêm, một hôm bà bất thần đến xưởng vẽ của con trai, ông Trí cuống quýt giấu cô mẫu của mình vào phòng tắm). Bố cục không gian “hình cầu" chứ không phải không gian dẹp quen thuộc của sơn mài “trước Trí". Kỹ thuật dùng sắc độ, tương quan để diễn tả ánh sáng lung linh trên áo và chất vải, lụa, nhung, diễn tả không khí, không gian nhiều tầng ở đây đã rất điêu luyện. Riêng vỏ trứng thì bức này đang trong bước thử nghiệm, nhưng đã khá mềm mại để tạo màu trắng của mặt, tay người và hoa văn trên áo.

Một tác phẩm độc đáo của ông có đề tài Kitô giáo là bức "Giáng sinh" thực hiện năm 1941 do một “bà đầm" đặt để tặng dòng tu Đa Minh. Bức tranh ba tấm có kích thước tổng cộng 1,3 m x 2, 37 m. Điểm độc đáo nhất của tranh này là Nguyễn Gia Trí đã Việt hoá hoàn toàn quang cảnh và các nhân vật trong Kinh Thánh. Ba vị thiên thần đứng trên mây là ba cô “tân thời" duyên dáng trong tà áo dài màu lam, lục và trắng - một trong ba cô gảy đàn tì bà! Ông Giuse và Đức Mẹ là hai ông bà nhà quê áo sồi quần gụ. Ba người trong bóng tối góc bên phải đầy tính biểu hiện: ba trạng thái tinh thần của chúng sinh - người thành kính hướng về Chúa Hài đồng là kẻ đã có niềm tin, người thản nhiên nhìn ra ngoài là kẻ bàng quan, người nằm nghiêng gối đầu trên cánh tay say ngủ là kẻ còn chìm đắm trong u mê. Và thay cho máng cỏ chuồng lừa hang đá, ở đây là cái chuồng trâu với một con trâu trắng!

Về mặt nghệ thuật, đáng chú ý là việc sử dụng vàng để tạo ánh sáng huy hoàng, và việc sử dụng màu xanh lam và lục trong sơn mài (đây có thể là một trong những sơn mài đầu tiên bổ sung gam màu xanh vào bảng màu vàng son đen truyền thống).

Tác phẩm này đã chịu kiếp lưu lạc cùng thời cuộc: Năm 1954, trước khi Hà Nội về tay chính phủ kháng chiến, Tu viện Teresa đã đưa nó qua nhà dòng chính quốc ở Lyon. Các vị tu sĩ ở Couvent Le Corbusier chắc là không hiểu giá trị của tấm tranh nên để nó dưới sàn phòng nguyện, quay mặt sau ra làm... bảng viết. Năm 1955, Linh mục Pineau của dòng Đa Minh được cử sang Sài Gòn, biết việc ấy đã xin đưa tấm tranh trở lại Việt Nam. Đến cuối 1959 đầu 1960 mới đưa được về Sài Gòn, và từ đó nó nằm ở Nhà nguyện Dòng Mai Khôi đường Tú Xương cho đến nay. Năm 1990, theo yêu cầu của nhà tu, HS Nguyễn Gia Trí đã cho đệ tử là Nguyễn Xuân Việt gia cố góc trái tấm tranh bị bong do để ẩm. Linh mục Thiện Cẩm, bề trên dòng Mai Khôi, người cung cấp cho tôi lịch sử tấm tranh này, cho biết: trước đây có một vị Khâm sứ Toà thánh Vatican ngỏ ý muốn mua tác phẩm độc đáo này, ông sẵn sàng chịu giá 1 triệu đồng (tiền Sài Gòn cũ).

Giai đoạn thứ hai của sự nghiệp Nguyễn Gia Trí kéo dài gần 40 năm sau của đời ông gắn bó với Sài Gòn - TPHCM kể từ năm 1954 đến khi ông qua đời (20/6/1993), song chủ yếu 20 năm 1954 - 1975 là thời kỳ ông có điều kiện thuận lợi nhất để hoàn thiện nghệ thuật sơn mài.

Những tác phẩm quan trọng nhất của Nguyễn Gia Trí sau 1954: Bộ lịch sử Việt Nam gồm các bức "Địa linh hoán tượng", "Hai Bà Trưng", "Trận Bạch Đằng" (cùng với hai tranh khác do ông Ngô Đình Diệm đặt với “tiền riêng” hơn một triệu đồng vào những năm 1957 - 1958), "Ba Vua" (1960), bộ tranh cho Thư viện Quốc gia gồm ba bức "Hoài niệm xứ Bắc", "Trừu tượng", "Múa dưới trăng" (1968 - 1969), "Vườn xuân" (1970)... và tác phẩm cuối cùng "Vườn xuân Trung Nam Bắc" thực hiện kéo dài trong nhiều năm.

"Ba Vua" là tấm tranh về đề tài Giáng sinh thứ hai của Nguyễn Gia Trí, thoạt tiên thực hiện theo com-măng của ông Diệm làm quà tặng La Mã, nhưng khó chịu vì những “góp ý" của con người quyền thế kia, hoạ sĩ đã thoái thác không giao tranh nữa và... tặng không cho một người bạn vong niên là một bác sĩ (có tài liệu nói người được cho tranh là một nhà văn trẻ, sau đó bức tranh mới về tay ông bác sĩ). Năm 1975, chủ nhân qua Pháp, mang theo bức tranh, nhưng rồi không hiểu vì lý do gì lại gửi nó về cho gia đình ở trong nước. Năm 1996, gia đình ông bán bức tranh, người mua được là một nhà sưu tập có tiếng ở TP HCM.

Tuy chỉ có khuôn khổ khiêm tốn (70 cm x 100 cm), nhưng tác phẩm này là một đỉnh cao toàn diện của tài năng Nguyễn Gia Trí. Một bảng màu cực kỳ phong phú (có người tỉ mẩn đếm được 22 sắc độ) vừa nghiêm trầm với các gam màu rượu chát - củ dền, vừa lộng lẫy với ánh sáng vàng và vỏ trứng, quí giá với màu xanh ngọc, bức tranh có hiệu quả như tấm tranh kính nhà thờ trong ánh hoàng hôn. Tài nghệ dùng sắc độ để diễn tả những nếp mềm mại, những biến đổi ánh sáng trên các tấm áo choàng, đặc biệt là tài xử lý vỏ trứng ở đây đã đến chỗ cực kỳ tinh tế. Cùng một mảng lớn, nhưng vỏ trứng được mài nông sâu uyển chuyển, có khi như trong suốt, để lớp màu nền bên dưới ánh lên khác nhau khiến các vật thể lung linh sống động, và nhất là tạo được sự biểu cảm của các gương mặt như trong những tranh Phục hưng.

Khi nhận làm ba tác phẩm để đặt trong Thư viện Quốc gia (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM), HS Nguyễn Gia Trí quyết định coi đây là dịp để tổng kết các khả năng của sơn mài cho các thế hệ sau học hỏi về kỹ thuật để tiếp tục phát triển.

Bức "Hoài niệm xứ Bắc" cố tình làm theo phong cách trang trí truyền thống với bốn màu tĩnh tại và chắc chắn: son vàng đen trắng, phối hợp hàng loạt họa tiết vuông thành sắc cạnh thể hiện những sinh hoạt và vật thể văn hoá cổ truyền Việt Nam: ở trung tâm là cảnh hội hè đình chùa, bên trên là cảnh Đền Ngọc Sơn, Ô Quan Chưởng, Văn Miếu, Chùa Một Cột, khung viền xung quanh là các hoạ tiết cầm kỳ thi hoạ, bánh chưng bánh dày, lan tùng cúc thủy tiên, tam đa, trà thuốc lào, hạc rùa ngựa lọng... cùng với mấy câu t"hơ chữ Nôm “Nước non nặng một lời thề, Nước đi đi mãi không về cùng non" ("Thề non nước của Tản Đà).

Bức "Múa dưới trăng" vẫn tiếp tục đề tài thiếu nữ trong vũ điệu mê li và ánh sáng lung linh, có những mảng họa sĩ giát vàng rất mỏng lên trên vỏ trứng để tạo ánh sáng trăng vừa lộng lẫy vừa thanh cao.

Song đáng lưu ý nhất là bức "Trừu tượng". Thể loại trừu tượng ông đã thực nghiệm từ những năm đầu tiên của sự nghiệp mình. HS Hoàng Tích Chù thường nói về một tấm vóc thử màu của ông Trí, được các đồng nghiệp khen là một “trừu tượng đẹp", ông bèn đặt tên là “Bouillabaisse” (Món xúp thập cẩm) và có người mua liền. Sau 1954, ông cũng vẽ một số tranh trừu tượng và nửa trừu tượng, trong đó có bức vẽ cho ông Diệm để làm quà cưới Thái tử Nhật. Nhiều mảng trong các bức tranh có hình của ông nếu tách riêng ra cũng có thể coi như tranh trừu tượng. Ông từng nói, bản thân sơn mài giàu tính trừu tượng: “Bắt đầu vẽ sơn mài là đã vẽ trừu tượng rồi". Lại nói: “Tranh trừu tượng là gần tâm hơn cả vì nó tự do không bị trói buộc". Nhưng ông cũng chỉ ra cái khó của thể loại này: “Tranh trừu tượng như nhốt một đàn thú chung một chuồng. Các hình, nét, màu sắc, chất... thiên sai vạn biệt, chỉ tâm ‘từ’ mới hoà hợp chúng thành nhất phiến."

Bức trừu tượng ở thư viện là bức lớn nhất (1,2 m x 2,4 m) và tiêu biểu nhất. Người ta nhận thấy trước nhất là sự phong phú của nó: Đây là một tập hợp hài hoà của nhiều bức trừu tượng, thống nhất thành một tác phẩm. Các tầng tranh cũng biến đổi, và lượng màu cơ bản rất ít (đều là màu truyền thống) nhưng biến chuyển nhiều sắc độ, có thể theo dõi sự chuyển ấy ngay trên một đoạn nét rất mảnh cũng như trên toàn bộ màu nền. Ở đây nét bút tung hoành phóng khoáng tự do của Nguyễn Gia Trí khiến ta tưởng chúng chạy một hơi trực tiếp theo cơn tùy hứng của tác giả như một “action painting” (hội hoạ động tác) của Jackson Pollock chứ không thể là sự thực hiện qua nhiều công đoạn nguội của sơn mài. Những nét bút mềm mại thoải mái như nét bút lông, mảnh tinh như thoáng mực nho nhưng lại có độ sâu và sự bền chắc chỉ có được ở sơn mài.

Đề tài “Thiếu nữ trong vườn" được Nguyễn Gia Trí thâm canh ngày càng hoàn thiện. Đến bức "Vườn xuân" năm 1970 (năm ấy là năm Tuất, ông Trí có vẽ lẩn trong đám lá hình một con chó) thì đã như trăng đến rằm. Mọi thành tựu kỹ thuật trước đó đều được phát huy hết mức, đặc biệt là thủ pháp để lộ nền son trong những hình người khiến các nhân vật nhẹ lâng lâng như tan được. Việc xử lý vỏ trứng ở đây có những sáng tạo mới: vỏ trứng nhoè mờ, ẩn hiện như thủy mặc, mềm như lụa, ánh vàng kim chiếu ra từ bên trong, từ những kẽ vỏ trứng như một ánh sáng nội tại huy hoàng, và các nét tinh tế màu đen chạy trên mặt vỏ trứng khiến ta nhìn thấy được những đường gió cuốn tà áo dài thiếu nữ. Vẫn là mô-típ ba cô, nhưng có thể thấy sự khác biệt với ba cô tiền chiến ở vẻ mông lung hư ảo nhiều hơn, phần hồn át hẳn phần xác, nhịp chân tíu tít, bước chân tung tẩy như không chạm đất, sự trong trắng phát sáng từ bên trong. Các cô đã rời cõi thế lên tiên giới. Trong khi đó, các nhân vật nữ ở tiền diện thể hiện ý tưởng ba miền Bắc Trung Nam: thiếu phụ mặc áo dài kiểu cổ đánh đàn tỳ bà là người Trung, thiếu phụ người Bắc nằm như trong các tranh tiền chiến (vẫn là nhân vật trong hoài niệm của tác giả sống xa quê hương), bà già Nam bộ đội khăn vẻ mặt ưu tư và cô gái Sài Gòn hồn nhiên trong áo dài lửng cổ Lệ Xuân.

Bức "Vườn xuân" khổ 1,2 m x 1,8 m nói trên là sáng tác theo yêu cầu của một người bạn của họa sĩ, bác sĩ Phạm Văn Hải, ông này muốn có “một tác phẩm để đời" của Nguyễn Gia Trí. Năm 1975, bác sĩ di tản, bức tranh trong nhà ông đã được một vị tướng của chế độ mới bán rẻ như biếu không, người may mắn mua được là hoạ sĩ sơn mài Nguyễn Thanh Liêm. Chính từ cái duyên này, Nguyễn Thanh Liêm đã kết thân được với gia đình lão hoạ sĩ để rồi làm mai cho TPHCM mua tác phẩm lớn cuối cùng của ông với giá 600 triệu đồng vào năm 1991 (tương đương 100.000 đôla), một kỷ lục về giá tranh ở Việt Nam từ trước đến nay. Gần đây chủ nhân cũ của bức "Vườn xuân" 1970 về nước, ông có tìm đến thăm lại báu vật xưa. Ông ngồi thẫn thờ hồi lâu nhưng rồi tự an ủi: “Dù sao tôi cũng vui vì cứ ngỡ cộng sản đã chặt nát mất rồi".

Có thể nói tâm tư về sự thống nhất đất nước thể hiện trong bức tranh trên là nỗi ám ảnh sâu xa nhất trong những năm cuối đời HS Nguyễn Gia Trí. Ngay sau bức "Vườn xuân", ông đã cùng bác sĩ Tín (người sản xuất dầu gió khuynh diệp nổi tiếng ở miền Nam) nhất trí về bức tranh cỡ lớn với đề tài này, bức “Vườn xuân Trung Nam Bắc" [13] . Bức tranh 9 tấm kích thước tổng cộng 2 m x 5,4 m - bức lớn nhất còn lại của Nguyễn Gia Trí - mà ông làm cho bác sĩ Tín được tiến hành từ đầu những năm 70.

Sau 1975, người đặt tranh đã di tản, trong điều kiện khó khăn của TPHCM một thời kỳ dài, họa sĩ vẫn quyết hoàn thành tác phẩm lớn mà ông biết sẽ là cuối cùng của đời mình. Để nuôi sống gia đình một cách khiêm nhường và đầu tư cho tác phẩm này, ông phải làm những tranh nhỏ để khách mang “chui" ra nước ngoài (vì tranh Nguyễn Gia Trí đã nằm trong danh mục “văn hoá phẩm quí cấm xuất khẩu"). Vậy mà lúc tranh đang làm dở, có người trả 14 lượng vàng ông không chịu bán. Mãi cho đến năm 1990, khi UBND TPHCM quyết định mua tác phẩm, nó vẫn chưa hoàn chỉnh như ý đồ của hoạ sĩ. Một phần vì khó khăn về nguyên liệu (bà Trí phải bán dần vóc và son để mua từng thếp vàng cho tranh). Phần quan trọng là vì hoạ sĩ bắt đầu lâm bệnh: trận tai biến mạch máu não đầu tiên xảy ra vào năm 1988, sau đó còn hai lần nữa trước khi ông qua đời. Do đó khâu làm vàng mặt tranh ông phải giao phó cho học trò là Nguyễn Xuân Việt.
Tác phẩm "Vườn xuân Trung Nam Bắc" tổng hợp mọi thành tựu trong nửa thế kỷ tìm tòi sáng tạo về sơn mài của Nguyễn Gia Trí với những yếu tố của đề tài “thiếu nữ trong vườn" quen thuộc được bổ sung, đổi mới. Sự cộng hưởng giữa các chất liệu vàng son vỏ trứng trong bố cục phối hợp nhịp nhàng các hình hoạ khiến bức tranh như một bản giao hưởng mà mọi thành phần đều vang lên cùng một lúc, lại như màn vũ kịch trong đó các nhân vật cùng cây lá, nhóm thì tĩnh tại làm nền cho những nhóm chuyển động với các cấp tiết tấu khác nhau. Trung tâm bức tranh là nhóm thiếu nữ Trung Nam Bắc trong trang phục hơi xưa. Cạnh đó là hai đứa bé như trong tranh dân gian cưỡi con kỳ lân huyền thoại chạy chơi. Phía sau là ngôi miếu cổ nhỏ nhưng trang nghiêm. Xen với các nét văn hoá truyền thống đó là không khí hiện đại tạo bởi hai nhóm thiếu nữ áo trắng múa quay tròn. Nếu nhóm bên trái còn giữ mức tiết tấu vừa phải như trong bức "Vườn xuân" 1970 thì ở ba cô gái bên phía tay phải, thần bút Nguyễn Gia Trí đã hiện hình được cái ảo, cái cuộn bay, cảm giác chóng mặt của vũ điệu quay tít có sức quyến rũ ma thuật, nếu nhìn lâu ắt phải “nhập đồng" theo. Khó hình dung họa sĩ làm thế nào giữ được cảm xúc một hơi trên cả tấm tranh lớn như vậy qua một thời gian dài, một sự “xuất thần suốt hai chục năm" như nhận xét của hoạ sĩ Nguyễn Xuân Việt. Xúc cảm ấy bộc lộ rõ trong từng mảng vỏ trứng thể hiện tà áo tung bay, trong từng mảng lá phượng chuyển sắc tinh tế, trong đôi bướm vờn sống động... Với kiệt tác này, thật sự Nguyễn Gia Trí đã đạt được mong muốn của mình: “Vẽ tranh muốn 10 năm như 1 giờ, vóc trăm cân như không còn trọng lượng." (Khi tác phẩm hoàn thành, cụ Trí nói: “Không phụ lòng anh em.")

Trong lúc gíúp Thầy mình làm tranh, Nguyễn Xuân Việt có hỏi: “Không biết bức này sẽ nằm ở đâu?", cụ bảo: “Đặt vấn đề ấy là thừa." Bởi cụ thường tâm niệm: “Nghệ thuật là vô cầu. Vì vô cầu nên nó hướng đến một cái gì đó rất cao." Nhưng lịch sử cuối cùng bao giờ cũng công bằng. Tác phẩm tinh túy bậc nhất của người thầy nghệ thuật sơn mài Việt Nam đã được đặt đúng chỗ: Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM.

Về con người Nguyễn Gia Trí, chúng ta chưa có điều kiện hiểu nhiều và cũng có những điều chưa đến lúc nói ra (chủ yếu vì tôn trọng ý nguyện của gia đình cố hoạ sĩ).

Ông người nhỏ nhắn, gương mặt không có vẻ gì đặc biệt khác với các trí thức nghiêm túc “thời Tây", nhất là với cặp kính cận to đeo thường trực. Một nét trong tính cách ai cũng nhận thấy ở ông là lặng lẽ, ít giao du, ít nói nhưng nói thì lắm lúc khá hài hước. Một người Pháp kể: Khi tiếp khách đến thăm xưởng, Trí có kiểu “làm dáng" là tự làm người ta quên mình đi, nếu có ai đề cập quá thẳng đến tài nghệ của ông thì ông chỉ nói: “Sơn mài đẹp quá!", như thể mình chẳng có vai trò gì trong đó. [14] HS Hoàng Tích Chù kể, khi báo chí hỏi vì sao đi vào hội họa, Nguyễn Gia Trí đã trả lời: “Nghịch mà vẽ".

Đời ông hầu như chỉ có một đam mê duy nhất là ở bên những tấm vóc sơn mài. Nhà văn Kim Lân nhớ nhất hình ảnh “ông chủ" của mình ngồi sụp xuống đất mài tranh trong xưởng vẽ. Bà Trí cho biết lịch sinh hoạt hàng ngày hầu như bất di bất dịch của ông: 5 giờ sáng ngủ dậy, vệ sinh xong là sang ngay xưởng sắp xếp công việc cho thợ - 7 giờ về ăn sáng rồi sang xưởng làm việc - 11 giờ 30 về ăn cơm, không ngủ trưa đến 1 giờ lại sang xưởng - 6, 7 giờ tối về ăn cơm, nghỉ một chút lại sang xưởng làm việc đến khuya, thường tới 1, 2 giờ sáng. (Sau này ông nói với Nguyễn Xuân Việt: “Sơn mài khác sơn dầu ở công hạnh", “Vẽ sơn mài có lúc như thợ mộc, như nông dân đi cày".) Có khi ông không về, bà sang xưởng thì thấy ông đã ngủ thiếp trên chiếc giường sắt nhà binh mà người cháu đem về từ Biệt điện Bảo Đại trên Đà Lạt. Mời ông đi chơi thật là khó. Lúc nào ông cũng bảo: “Để tôi trông nhà cho". Bán bức tranh "Vườn xuân" cho bác sĩ Hải, mua được chiếc xe hơi La Dalat (hồi đó xe hơi rất đắt), nhưng chẳng bao giờ ông chịu lái chở vợ đi chơi, ông nói: “Nhờ người khác lái, hoặc đi taxi có lợi hơn".

Cũng bởi thế, Nguyễn Gia Trí sống rất giản dị. Tiền ông làm ra không ít, nhưng ngoài việc đầu tư cho sơn mài, hầu như ông không có nhu cầu gì lớn. Trong xưởng vẽ trước kia ở làng Thịnh Hào, đồ đạc của ông cũng chỉ có một chiếc giường cá nhân và một ngăn sách. Giới hoạ sĩ hồi đó thường truyền nhau rằng: “Trí làm ra tiền cho Tứ (nhà văn Đoàn Phú Tứ - bạn thân của ông) tiêu". Sau 1954 thì mọi việc tài chính đều do bà Trí quán xuyến, ông chỉ chuyên tâm vẽ. Sau một thời gian ngắn sống khổ sở ở gần Lò heo Gò Vấp, ông bà Trí thuê rồi mua lại hai căn liền nhà ngói cũ một tầng (trệt) trong ngõ đường Ngô Đình Khôi (sau đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm đổi tên là đường Cách Mạng, sau 1975 đổi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa rồi Nguyễn Văn Trỗi), một bên ở một bên làm xưởng. Nhà ở cũng như xưởng của ông rất tuềnh toàng, mấy chục năm hầu như không sửa chữa gì. Căn xưởng nát, mái trổ vài viên lắp kính để thêm ánh sáng trời, và cũng như ở xưởng Thịnh Hào xưa, có một chiếc thang đôi để ông trèo lên khi cần nhìn toàn cảnh những tranh lớn. Tường sau căn xưởng bị nứt toác, HS Nguyễn Xuân Việt nói lần nào đi qua anh cũng rùng mình vì trông y như cái máy chém rớt xuống lúc nào không biết. Ông gắn bó với ngôi nhà giản dị của mình đến mức sau khi tranh "Vườn xuân Trung Nam Bắc" bán được, trong lúc ông đi bệnh viện thì con ông xây lại nhà mới, khi đón ông về, đến trước cửa nhà ông không chịu vào và kêu lên: “Đây không phải nhà tôi". Khi biết rõ là nhà mình được xây lại, ông “bắt đền" và bảo: “Thế này thì bạn bè làm sao biết là nhà tôi mà đến chơi!"

Chuyện ăn mặc thì ông chẳng quan tâm gì tới. Bà Trí cho biết ông ăn uống rất đơn giản, đúng khẩu vị thanh tao dân Hà Nội xưa, chỉ cần đồ ăn nóng sốt. Ông bảo bà: “Nếu thiếu lắm thì ăn nước mắm chưng cũng được". Ông không biết nhậu nhẹt, hàng tháng bà cứ “nhập" đều đều cho ông 30 chai bia, 1 chai rượu Martell, 10 chai soda để ông uống trong lúc làm việc, còn cà phê thì mỗi ngày đến 4-5 phin. Theo một số hoạ sĩ gần gụi ông cuối đời, ông chẳng để ý là mình đi hai chiếc vớ hai màu khác nhau, cũng như bộ com-lê diện của mình là “mặc thừa" của ông anh là GS Tường.

Thật khó ngờ con người đam mê nghệ thuật và lặng lẽ ấy lại là một nhà cách mạng chống Pháp thực sự đã chịu tù đầy tra tấn vì nghĩa lớn của dân tộc. Sau 1954, có thể ông đã nguội lửa đấu tranh trước những diễn biến phức tạp của lịch sử, nhưng lòng khảng khái trước quyền lực của ông thì còn nguyên. Có nhiều chuyện kể về những lần ông từ chối vẽ tranh cho ông Ngô Đình Diệm cũng như Đại sứ Mỹ Bunker khi họ đòi ông vẽ theo ý họ. Ông cũng từ chối yêu cầu của bà Cố vấn Trần Lệ Xuân đòi dành riêng một buổi cho gia đình bà đến xem trong dịp ông triển lãm tại nhà năm 1959. Và người Sài Gòn thì không quên bức biếm hoạ 6 con chuột khoét ruỗng quả dưa hấu trên báo Tự do xuân năm Canh Tý, khiến ông phải “đi trốn" một thời gian. Cũng từ thời gian này, ông ngày càng ham mê nghiên cứu Phật giáo và triết học Trung Hoa cổ. Đôi lá thư ông viết cho các bạn văn nghệ trước 75 hay những lời ông dạy đệ tử Nguyễn Xuân Việt sau 75 cho thấy rõ ông ngày càng tâm niệm nghệ thuật gắn làm một với “Tâm", với “Đạo". Những suy nghĩ về nghệ thuật của người mang pháp danh Thiện Chân ngày càng thấm nhuần triết lý thiền: “Phải luôn luôn nhớ: tranh mình chỉ là phương tiện để tu tập mà thôi", “Hội hoạ gần với tôn giáo vì nó xuất phát từ tâm người ta"... Hai mươi ngày trước khi ông qua đời, Nguyễn Xuân Việt đến thăm, ông không nói được nữa, chỉ ra dấu: khép lại hai mắt, khép lại hai tai, khép lại đôi môi, rồi ngón tay ông chỉ vào giữa trán. Đó chính là vị trí “con mắt thứ ba", “con mắt huệ", ngõ vào duy nhất để tiếp nhận chân lý sự sống cũng như chân lý nghệ thuật.

Một đời tìm tòi sáng tạo để đưa sơn mài Việt Nam lên được địa vị một chất liệu hội hoạ hiện đại, với những kiệt tác hoà quyện cái cổ truyền và cái thời đại, với nhân cách và bản lĩnh sống thật cao thượng đến tận giờ phút cuối cùng, Nguyễn Gia Trí xứng đáng là bậc “đạo sư" của tất cả những ai coi nghệ thuật là thiêng liêng, của những ai thành tâm muốn tìm một lối đi cho văn hoá Việt giữa thời giao lưu toàn cầu này.

SG 5/4/1998



[1]Câu này cũng như tất cả các câu nói về nghệ thuật của HS Nguyễn Gia Trí trích trong bài này đều rút từ cuốn Hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí nói về sáng tạo của Nguyễn Xuân Việt, NXB Văn học 1998.
[2]HS Hoàng Tích Chù sinh năm 1910, học CĐMT Đông Dương sau Nguyễn Gia Trí hai khoá, sau này là một trong các hoạ sĩ sơn mài hàng đầu Việt Nam.
[3]V. Tardieu, người sáng lập trường CĐMT Đông Dương, sinh 1870 ở Lyon, mất 1937 tại Hà Nội.
[4]Joseph Inguimberty (1896 - 1971) là người đã khuyến khích các sinh viên CĐMT Đông Dương nghiên cứu sơn mài, ông yêu mến và gíup đỡ Nguyễn Gia Trí nhiều, sau trở thành bạn vong niên, thường liên lạc thư từ với hoạ sĩ sau 1954.
[5]Ý trong bài "Nguyen Gia Tri, artiste laqueur" của CL.M. trên tạp chí Indochine số 217 (26/ 10/1944)
[6]"Nguyen Gia Tri, artiste laqueur", bài đã dẫn
[7]HS Tô Ngọc Vân (1906 - 1954) học khoá hai CĐMT Đông Dương. Hai câu trên trích trong những bài viết của Tô Tử - bút danh của Tô Ngọc Vân - ở báo Ngày nay số 146 năm 1939 và Tô Ngọc Vân trên báo Thanh nghị số 77 năm 1944).
[8]Bà Trí nhũ danh Nguyễn Thị Kim là em họ vợ họa sĩ Lemur Cát Tường, người sáng tạo chiếc áo dài Việt Nam hiện đại. Bà kết hôn với HS Nguyễn Gia Trí năm 1955 tại Sài Gòn. Hai ông bà không có con, nuôi một con trai tên là Tuệ. Bà là người vợ hiền Việt Nam mẫu mực, cả đời chăm lo cho sự nghiệp của chồng.
[9]Xem chú thích 7
[10]Ý của Linh mục Trần Thái Hiệp (Báo Công giáo và Dân tộc năm 1991)
[11]"Nguyen Gia Tri, artiste laqueur", bài đã dẫn
[12]Nhiều điểm phân tích kỹ thuật hội hoạ của Nguyễn Gia Trí trong đoạn viết này cũng như các đoạn sau trong bài, tác giả tiếp nhận từ các hoạ sĩ Bùi Quang Ngọc, Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Xuân Việt.
[13]Tên tranh mà HS Nguyễn Gia Trí viết trực tiếp trong tranh là “Vũ phiến". Sở dĩ có tên này là do sau 1975, đất nước vừa thống nhất, để tránh có người hiểu lầm là mình xu thời nên hoạ sĩ tạm thời không dùng tên “Vườn xuân Trung Nam Bắc”.
[14]"Nguyen Gia Tri, artiste laqueur", bài đã dẫn
Nguồn: Những người lao động sáng tạo, NXB Lao Động, 1998
Thế giới nghệ thuật sơn mài Nguyễn Gia Trí
18:16:00 15/03/2010

Phải đến Nguyễn Gia Trí, nghệ thuật tranh sơn mài mới đạt tới tầm cao mới. Ở đây, vỏ trứng không đơn thuần chỉ là dạng mảng phẳng, mà còn có thể diễn tả mảng tối, tạo sự liên tưởng đa chiều về chất.
Đã hai lần giới hội họa Việt Nam đưa ra các thứ bậc để vinh danh người tài: Trí (Nguyễn Gia Trí) - Vân (Tô Ngọc Vân) - Lân (Nguyễn Tường Lân) - Cẩn (Trần Văn Cẩn) bên cạnh Sáng (Nguyễn Sáng) - Nghiêm (Nguyễn Tư Nghiêm) - Liên (Dương Bích Liên) - Phái (Bùi Xuân Phái).
Tuy chỉ là truyền miệng, nhưng mặc nhiên đã trở thành sự đánh giá mang tầm vĩ mô về vai trò cá nhân cũng như sự đóng góp lớn lao của các nhà danh họa đối với nền nghệ thuật tạo hình nước nhà. Các danh họa, mỗi người một số phận, một tâm thế và cách dấn thân riêng, nhưng tựu trung, họ đều là những con người xuất chúng về tài năng và nhân cách.
Danh họa Nguyễn Gia Trí đứng vào hàng ngũ những họa sĩ tiên phong có cao vọng cách tân nền hội họa Việt Nam.Ông là người đi đầu, sục sôi sáng tạo, và có công rất lớn trong việc tìm tòi, nghiên cứu, thể nghiệm ở chất liệu mới sơn mài - một chất liệu mà trước đây chỉ sử dụng trong mỹ nghệ và đồ thờ cúng - thành một chất liệu quí, sang trọng, lộng lẫy, rực rỡ, sâu thẳm trong nghệ thuật tạo hình.
Nguyễn Gia Trí đã giải phóng sơn ta thoát khỏi cái tĩnh trang trí ngàn năm để đến với cái động tự do, phóng khoáng, mở rộng các khả năng biểu đạt những rung cảm tinh tế nhất của người nghệ sĩ. Và cũng cần lưu ý thêm rằng lúc bấy giờ thế giới vẫn chưa có công nghệ sơn mài này.    
Nghệ thuật tranh sơn mài manh nha từ đầu những thập niên 1930, khi cụ Nam Sơn - người đồng sáng lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương - hướng sự say mê nghệ thuật của hai ông thầy người Pháp Victor Tardieu và Joseph Inguimberty vào việc tìm hiểu vẻ đẹp của đồ sơn Việt Nam tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội để rồi chính họa sư Victor Tardieu quyết định mở xưởng nghiên cứu sơn ta do họa sư Joseph Inguimberty phụ trách và mời nghệ nhân Đinh Văn Thành về dạy nghề sơn.
Qua bước đầu mày mò, tìm kiếm, các sinh viên những thế hệ đầu của trường đã sáng tạo nên những bức sơn mài lộng lẫy, thơ mộng. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, chất liệu sơn mài vẫn chưa hoàn toàn được làm chủ; đặc biệt là kỹ thuật sử dụng vỏ trứng, trên thực tế, cũng chỉ dừng lại ở mức độ diễn tả dạng mảng phẳng.
Phải đến Nguyễn Gia Trí, nghệ thuật tranh sơn mài mới đạt tới tầm cao mới. Ở đây, vỏ trứng không đơn thuần chỉ là dạng mảng phẳng, mà còn có thể diễn tả mảng tối, tạo sự liên tưởng đa chiều về chất. Có thể là da thịt mịn màng của nhân vật, cũng có thể là cát đá thô ráp của phong cảnh...
Từ nền tảng tiếp thu, sử dụng và kế thừa bốn màu sắc chính: đen (then), đỏ (son), vàng (quì), bạc của truyền thống, Nguyễn Gia Trí đã thể nghiệm bằng nhiều phương cách nhằm mục đích làm giàu cho bảng màu của chất liệu sơn truyền thống như trộn dầu thông với sơn cánh dán và son, dây, rắc vàng, bạc, cát… bằng độ thưa mau để tạo nên sắc độ khác nhau, nung đốt vỏ trứng rồi cẩn vào nền tranh một cách tinh tế tạo nên một vẻ đẹp lãng mạn, bay bướm cho hình khối. Kết quả là bảng màu của sơn mài đã phong phú thêm lên, nâng cao hiệu quả diễn đạt nghệ thuật.
Nguyễn Gia Trí đã làm kinh ngạc công chúng Hà thành với những bức: Bên đầm sen (1938); Vườn xuân và thiếu nữ (1939); Chùa Thày (1939-1940); Bình phong khoai nước và cảnh (1940); Hai thiếu nữ (1944); Chiều hôm những ánh vàng (1944); Thiếu nữ bên hồ Hoàn Kiếm (1944)… Trước mắt mọi người là những cảnh trí và thiếu nữ thướt tha trong vẻ đẹp liêu trai của sắc vàng rực rỡ quyến rũ, của sắc trắng trinh bạch chứng nghiệm cho những công đoạn làm tranh đầy cảm hứng, gợi khơi người xem trở về với vẻ đẹp duyên xưa.
Sau khi xem tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí, họa sĩ Tô Ngọc Vân khẳng định: "Đến cuộc thí nghiệm Nguyễn Gia Trí, lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở óc, ở tâm hồn người ấy ra, nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng. Nghệ thuật của Nguyễn Gia Trí là ý tưởng, tình cảm của Nguyễn Gia Trí đúc lại, một nét, một vết, một màu đều phải ở tay nghệ sĩ mà ra".
Thành công của Nguyễn Gia Trí là sự kết hợp những tìm kiếm ban đầu của họa sĩ Trần Quang Trân từ năm 1933-1934 đến Lê Phổ, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Phạm Hậu, Lê Quốc Lộc… những năm 1936-1939. Thế giới sơn mài Nguyễn Gia Trí vừa thực vừa ảo, trong đó gợi niềm khát khao về cái đẹp vĩnh hằng. Tranh sơn mài của ông đạt tới đỉnh cao của những năm 1939-1944.
Bên cạnh chất liệu sơn mài là tiêu biểu, Nguyễn Gia Trí cũng thể nghiệm, tìm tòi qua các chất liệu hội họa quen thuộc như sơn dầu với các bức Bến Hồng Quảng, Sông Đà, phụ bản Kiều
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí là người cách tân xuất sắc, có công rất lớn phát triển sơn mài từ mỹ nghệ trở thành tranh mỹ thuật và đã đưa sơn mài lên vị trí đỉnh cao. Hạn chế của Nguyễn Gia Trí là ở chỗ không có mảng màu đập vào cảm giác nâng tầm tranh lên. Chi tiết nhỏ nhiều hóa rối, ít sáng tạo nên khô…
Sử dụng chất liệu thuần Việt để bộc lộ tình cảm của dân tộc bằng ngôn ngữ hội họa hiện đại là giá trị nghệ thuật của hội họa Nguyễn Gia Trí. Ngoài ra, ông còn vẽ minh họa, biếm họa cho các báo Phong hóa, Ngày nay… lĩnh vực nào, ông cũng tìm tòi, cũng để lại những dấu ấn sáng tạo khó quên.
Quá nửa thế kỷ làm nghệ thuật, Nguyễn Gia Trí đã để lại trong lòng người ngưỡng mộ một chân dung nghệ sĩ tài năng đáng khâm phục. Sự đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà là những đóng góp có ý nghĩa nền móng và hết sức sang trọng. Ngôn ngữ nghệ thuật sơn mài Nguyễn Gia Trí có sức truyền cảm mạnh. Màu đằm thắm, sắc nhị âm vang, rung tới tận đáy lòng người xem bởi truyền thống xưa mà trí tuệ nồng nàn; lắng đọng ký ức mà hiện hữu tương lai.
"Sơn ta với bản chất lộng lẫy huyền thoại, thần tiên có niềm hình tượng và ngôn ngữ riêng của nó. Nhờ nó người nghệ sĩ có thể vượt bỏ object (đối tượng, ngoại vật, khách thể) để ra khỏi ranh giới imitation (mô phỏng tự nhiên), để vào tận trung tâm cái thực intérieur (bên trong, nội tại). Và càng bỏ xa object bao nhiêu, càng xuất phát từ bản thân bao nhiêu thì càng tránh được con đường từ ngoài đi vào, mà đi từ trong tâm linh mình đi ra". (Nguyễn Gia Trí)
 
Không phải ngẫu nhiên mà tên ông được xếp ở vị trí đầu tiên trong "bộ tứ" gồm "nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn" (Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Tường Lân, Trần Văn Cẩn) của hội hoạ Việt Nam hiện đại. Sinh thời, ông là hoạ sĩ luôn có tác phẩm được người đời săn đón. Tranh của ông bán chạy đến độ không kịp vẽ. Được mệnh danh là "vua sơn mài", kể từ khi ông tạ thế, thời gian cũng đã ngót 20 năm, song danh hiệu ấy hiện vẫn còn... bỏ trống.
Có thể nói, Nguyễn Gia Trí đã và vẫn là hoạ sĩ lập kỉ lục về việc có tác phẩm được mua với giá cao nhất trong các hoạ sĩ Việt Nam từ trước tới nay...
Danh hoạ Nguyễn Gia Trí sinh năm 1908 tại xã Trường An, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội) trong một gia đình có truyền thống hiếu học. Anh trai ông là GS Nguyễn Gia Tường, nguyên Hiệu trưởng Trường Bưởi Hà Nội; em trai ông là kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức, một trong những kiến trúc sư hàng đầu của Việt Nam... Nguyễn Gia Trí là người phát lộ tài năng từ rất sớm, và cũng sớm được người đời công nhận. Tuy nhiên, ông là người ghét lối sống khuôn phép. Chuyện kể rằng, năm 1928, Nguyễn Gia Trí theo học khoá V Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Tại đây, chỉ đến năm thứ hai, ông bỏ học về mở xưởng vẽ riêng (sau nghe bạn bè khuyên nhủ, ông trở lại trường, trở thành sinh viên khoá VII). Có người đưa ra lý do của việc Nguyễn Gia Trí bỏ học, ấy là do Hiệu trưởng của trường - hoạ sĩ Victor Tardieu - tuy phục tài nhưng không ưa cá tính của người hoạ sĩ trẻ. Những lần có khách tới thăm trường, ông này thường cố tình đứng che tranh của Nguyễn Gia Trí.
Bản thân Nguyễn Gia Trí sau này cũng tiết lộ: "Học đến năm thứ hai, tôi không chịu được nhà trường nên bỏ. Sau vì có khoa sơn mài nên học lại. Giờ académique (vẽ hàn lâm) buổi sáng là một cực hình. Chỉ mong đến chiều để làm sơn mài". Như vậy, bên cạnh lý do "không chịu được nhà trường" thì lý do cơ bản dẫn tới việc Nguyễn Gia Trí không tha thiết với việc học là vì ông  thích làm tranh sơn mài hơn. Chính thiên hướng độc đáo này đã giúp Nguyễn Gia Trí trở thành người đi đầu trong việc mở ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho Việt Nam mà sau này ta gọi là nghệ thuật sơn mài.
Với các chất liệu: sơn than, son, vàng, bạc, vỏ trứng, sơn cánh gián, Nguyễn Gia Trí đã tạo cho tranh sơn mài một vẻ đẹp lộng lẫy, một sức hàm chứa ít ai ngờ tới. Ngay từ những năm ba mươi của thế kỷ trước, xem tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí, hoạ sĩ Tô Ngọc Vân đã phải nức nỏm: "Trên những màu hồng nhợt biến hoá, những sắc nâu ngon thiệt là ngon, những vỏ trứng đổi cả thể chất thành quý vật". Cũng theo ý kiến của Tô Ngọc Vân thì với việc ra đời những kiệt tác tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí, "Lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở đó, ở tâm hồn người ấy (tức Nguyễn Gia Trí) ra, nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng".
Đến nay, có thể nói, tất cả các hoạ sĩ sơn mài đều bái phục tài "luyện vỏ trứng" của Nguyễn Gia Trí (hiện hoạ sĩ Bùi Quang Ngọc còn giữ được bức tranh "Thiếu nữ bên đầm sen" của Nguyễn Gia Trí, một tác phẩm sơn mài được xác định là đầu tiên của Việt Nam áp dụng kỹ thuật cẩn vỏ trứng lên mặt người). Mặc dù những năm cuối đời, Nguyễn Gia Trí từng hé lộ với một "đệ tử" của mình về bí quyết xử lý vỏ trứng, song đến nay cũng chưa ai học được bí quyết "mài bạt" vỏ trứng của ông. Đây cũng là lý do để các nhà nghiên cứu mỹ thuật đi đến kết luận: Khó ai có thể làm giả được tác phẩm sơn mài của Nguyễn Gia Trí. 
Nguyễn Gia Trí là người rất khe khắt với nghề. Hiếm khi nào ông thoả mãn với một bức tranh của mình. Nhiều người đã biết, vẽ tranh sơn mài khá... tốn, bởi nó phải sử dụng đến cả chất liệu vàng, bạc. Song với Nguyễn Gia Trí, dù tốn đến mấy, một khi còn cấn cá, ông vẫn sẵn sàng phá bỏ hết để làm lại. Chẳng thế mà không ít lần vợ ông phải đem giấu các bức tranh của ông đi để giao cho khách, bởi nếu còn trông thấy, kiểu gì ông cũng đòi... sửa tiếp.
Nguyễn Gia Trí quan niệm: "Vẽ sơn mài có lúc như thợ mộc, có lúc như thợ cày".  Nhà văn Kim Lân, người từng "phụ việc" cho Nguyễn Gia Trí ở xưởng vẽ của ông ở làng Thịnh Hào, Ngã Tư Sở (thời kỳ trước Cách mạng) từng kể, hình ảnh mà ông nhớ nhất ở "ông chủ" của mình là hình ảnh ông ngồi sụp xuống đất mài tranh trong xưởng vẽ. Còn bà vợ của hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí thì nhớ nhất hình ảnh đức lang quân của mình thức tới 1- 2h sáng để làm tranh. Có đêm bà sang xưởng mời ông về ngủ thì thấy chồng mình đã thiếp đi tự lúc nào trên chiếc giường sắt vốn chỉ dành cho người... nhà binh. Thật khó để dứt ông ra khỏi công việc. Hầu như mỗi lần bà rủ chồng đi chơi đâu đó, câu trả lời thường trực của ông là: "Bà đi đi, để tôi trông nhà cho".
Nghiêm khắc, khổ công với nghề, Nguyễn Gia Trí cũng là một tấm gương sáng về việc giữ vững khí chất của kẻ sĩ. Chuyện kể rằng, khi thực hiện bức tranh "Ba Vua" về đề tài Giáng sinh do Ngô Đình Diệm "đặt hàng" để làm quà tặng cho Toà thánh Vatican, khó chịu vì sự "góp ý" không lọt tai của vị Tổng thống, nhà danh hoạ đã thoái thác không giao tranh cho ông ta nữa mà tặng lại cho một nhà văn trẻ. Lại có lần, "bà cố vấn" Trần Lệ Xuân định mua tặng Nhật hoàng mấy bức tranh sơn mài khổ lớn của Nguyễn Gia Trí lưu tại Thư viện Quốc gia TP HCM, song việc không thành vì hoạ sĩ kiên quyết yêu cầu phải để những bức tranh này lại trong nước.
Như ở đầu bài đã nói, Nguyễn Gia Trí là một hoạ sĩ rất "đắt khách". Ngay từ những năm bốn mươi của thế kỷ trước, tranh của ông đã được các bậc sành điệu đặt hàng thường xuyên, khiến hoạ sĩ trẻ lúc nào cũng trong tình trạng làm không hết việc. Nhiều vị khách Tây đặt hàng ông ngay từ khi họ mới trông thấy phác thảo. Vợ chồng Công sứ Pháp Cresson còn lặn lội vào tận nhà ông ở Thịnh Hào để lấy tranh. Thậm chí, tranh của Nguyễn Gia Trí còn được bán theo phương thức đo bằng carê (centimét vuông; tranh kích cỡ càng lớn thì số tiền càng lớn). Đây có lẽ là trường hợp duy nhất ở Việt Nam mà giá một bức tranh được tính theo cách này và trong thực tế, đã rất nhiều lần Nguyễn Gia Trí phải từ chối đơn đặt hàng của khách.
Nhắc tới tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí, người đời thường nhớ tới các bức: "Chải tóc", "Cảnh thiên thai", "Thiếu nữ trong vườn", "Thiếu nữ bên hoa phù dung", "Vườn xuân", "Bên Hồ Gươm", "Chùa Thầy", "Vườn xuân Trung Nam Bắc"... Trong các tác phẩm này, bức "Vườn xuân Trung Nam Bắc" từng được UBND TP Hồ Chí Minh mua lại vào năm 1991 với giá 600 triệu đồng (tương đương 100.000 đôla), một mức giá kỷ lục dành cho tranh Việt Nam tính đến thời điểm ấy. Bức "Thiếu nữ bên hoa phù dung" từng được treo ở Phủ Chủ tịch (thời kỳ sau 1954). Bức "Thiếu nữ trong vườn" từng được "chép" lại (sang khổ lớn hơn) để trang trí cho một gian phòng ở Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình. Bức "Giáng sinh" do Nguyễn Gia Trí thực hiện từ năm 1941, mặc dù một thời bị dùng làm... bảng viết, song sau này đã được một vị Khâm sứ của Toà thánh Vatican ngỏ ý muốn mua lại với giá 1 triệu đồng (tiền Sài Gòn cũ) - một cái giá thuộc dạng cao... ngất ngưởng.
Trái ngược với khả năng kiếm tiền, trong thực tế Nguyễn Gia Trí lại là người có lối sống rất giản dị, có thể nói là thanh đạm. Theo người nhà ông cho biết, mặc dù có lúc tiền ào ào chảy đến nhiều như nước, song ngoài việc dùng để "tái đầu tư" cho các chất liệu vẽ, hầu như nhà hoạ sĩ chẳng có nhu cầu tiêu pha gì. Căn nhà ông ở khá tuềnh toàng, nhiều năm chẳng sửa sang. Khi bức tranh "Vườn xuân Trung Nam Bắc" bán rồi, nhân lúc ông nằm viện, con cái ông lấy tiền xây nhà mới. Khi trở về, nhìn căn nhà, ông giãy nảy: "Đây không phải nhà tôi". Tới khi biết đó chính là ngôi nhà cũ của mình, ông thở dài: "Thế này thì bạn bè làm sao biết là nhà tôi mà đến chơi".
Danh hoạ Nguyễn Gia Trí trút hơi thở cuối cùng vào ngày 20/6/1993 tại TP HCM. Được biết, trước đấy, khi một phóng viên báo chí hỏi vì lý do gì mà ông lại đi theo con đường hội hoạ, nhà hoạ sĩ bậc thầy đã trả lời một câu gọn lỏn: "Nghịch mà vẽ". Kỳ thực, cuộc đời hết mình cống hiến cho nghệ thuật của Nguyễn Gia Trí đã chứng minh rằng, nghệ thuật đích thực không bao giờ là một trò chơi Danh hoạ Nguyễn Gia Trí: Đâu phải chuyện
 
Nguyễn Gia Trí (1908-1993) sinh tại tỉnh Hà Tây. Ông là sinh viên của trường đại học nổi tiếng Indochina Fine Arts College (1931-1936), ông được xem là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là "Vua sơn mài". Từ khi ông mất, ngôi "Vua sơn mài" vẫn còn bỏ trống và rất khó có ai có thể "lên ngôi" thay thế ông được.

Sinh thời, Bùi Xuân Phái rất ngưỡng mộ tài năng và phẩm chất kiên dũng trước bạo quyền của Nguyễn Gia Trí, và xem ông như bậc đàn anh đáng kính nhất trong làng hội họa Việt Nam.

Ông Nguyễn Gia Trí là một trong những họa sĩ nổi tiếng đi đầu trong việc tạo ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho Việt Nam, với những đường nét vẽ thanh lịch và những tư tưởng mới về nghệ thuật sơn mài. Ông phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo nên những bức họa hiện đại mang đầy tính dân tộc.

Những tác phẩm của ông có thể tìm thấy trong Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam tại Hà Nội và Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật tại Sài Gòn. Tác phẩm của Nguyễn Gia Trí đã được chỉ định là Bảo Vật Quốc Gia. Vì thế, những tác phẩm của ông đã không được phép rời khỏi Việt Nam.

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí thường làm tranh không hết hợp đồng, hầu hết là những đại gia có máu mặt đặt tranh, đó là những tỷ phú Nam Phi, Nam Mỹ. Họ đến xin ông vẽ những tranh khổ lớn và không yêu cầu về nội dung hay hình thức nghệ thuật, tùy ông muốn và không có chuyện tham gia góp ý kiến vào tác phẩm của ông.

Tranh ông bán đo bằng ca-rê (phân vuông, tranh kích thước càng lớn thì giá tiền cứ theo đó mà nhân lên). Ở VN các họa sĩ trong lịch sử Hội họa hiện đại có duy nhất danh họa Nguyễn Gia Trí bán tranh tính bằng ca-rê và luôn phải từ chối đơn đặt hàng của khách. Trường hợp này đúng với nguyên tắc: "Phải có khách hàng lớn mới có nghệ sĩ lớn".

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí lúc sinh thời đã có nguyện vọng giữ lại 3 bức tranh: "Để cho thế hệ mai sau nghiên cứu". Đó là 3 bức tranh sơn mài khổ lớn lưu tại Thư viện quốc gia TP Hồ Chí Minh mà vợ Ngô Đình Nhu mua định tặng Nhật Hoàng, nhưng ông yêu cầu phải để lại trong nước. Những năm đỉnh cao của năng lực sáng tạo, tài chính của ông lên tới hàng nghìn cây vàng. Nhưng đến khi nhắm mắt, xuôi tay, ngoài vài tấm tranh cỡ nhỏ, tài sản của ông chẳng có gì đáng kể, tất cả đã được họa sĩ dành cho nghệ thuật!



 
 

Nguyễn Gia Trí, quê ngoại ở huyện Chương Mỹ thuộc tỉnh Hà Đông cũ, nay là Hà Nội. Từ xưa, đó là vùng quê của nhiều nghề thủ công nổi tiếng thiên hạ, và hàng hoá do làng quê đó làm ra được người Kẻ Chợ (Thăng Long) rất ưa chuộng. Hơn thế, người thợ ở làng quê đó thường ra Kẻ Chợ cư ngụ để sản xuất hàng và cung cấp cho thị trường kinh kỳ. Đến năm 1908, một gia đình làm nghề thủ công khá giả ở làng quê ấy đã sinh một người con mà sau này người đời coi là “đứa con ngỗ ngược của hội họa Việt Nam hiện đại”, đó là Nguyễn Gia Trí.

Khi còn ở tuổi thiếu niên, Nguyễn Gia Trí theo anh trai là Nguyễn Gia Tường làm nghề giáo học, ra sống ở Hà Nội. Nguyễn Gia Trí được anh cho theo học trung học ở Trường Bưởi, một trường danh tiếng bậc nhất lúc bấy giờ.

Nguyễn Gia Trí tỏ rõ năng khiếu hội họa rất sớm, đồng thời cũng có tính độc lập thật mạnh từ nhỏ. Sau trung học, ông vào học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khoá V, năm 1929.

Phần lớn các sinh viên thuộc địa hồi đó đều có ý muốn được độc lập trong chọn lựa cách thể hiện nghệ thuật của bản thân, Nguyễn Gia Trí là trường hợp nổi hẳn lên. Do vậy, khi học đến năm thứ ba, ông rời bỏ trường họa, về mở xưởng vẽ và tự học. Lý do rời trường, như ông nói với người thân, rất đơn giản là “nhà trường không dạy gì hay hơn!”.

Một số người thấy Nguyễn Gia Trí có tài mà lại không đi học nữa, cho rằng ông đau ốm nên nghỉ học. Chính thời gian nghỉ học, tại xưởng vẽ của mình, Nguyễn Gia Trí thử sức trong chất liệu sơn mài với một quyết tâm cao độ.

Trên thực tế, từ năm 1925, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã để ý đến chất liệu sơn mài và đã mời nghệ nhân Đinh Văn Thành ở làng nghề sơn mài Hạ Thái đến hướng dẫn cách dùng màu sơn ta. Nhưng, họ chỉ coi đó là kỹ thuật làm hàng mỹ nghệ chứ không phải là nghệ thuật. Đó là điều Nguyễn Gia Trí không chịu.

Hai năm sau, theo lời khuyên của bạn bè, Nguyễn Gia Trí trở lại trường học tiếp với các sinh viên khoá VII, trong đó có Trần Văn Cẩn, Lưu Văn Xìn, Vũ Đức Nhuận, Nguyễn Trung Bang, Nguyễn Văn Tại. Chính vì thế mà Nguyễn Gia Trí phải mất đến mười năm mới có tấm bằng danh giá của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương.

Ngay thời gian đang học trong trường, Nguyễn Gia Trí đã vẽ tranh sơn dầu và cả tranh sơn mài, và được người đời coi là họa sĩ có danh tiếng. Nhóm Tự lực văn đoàn đã mời ông tham gia như một thành viên, làm họa sĩ chính của báo Ngày Nay. Nhà thơ Huy Cận thân với Nguyễn Gia Trí chính từ những lần gặp gỡ ở Tòa soạn Ngày Nay.

Trong bài hồi ức Ngày xuân nhớ Nguyễn Gia Trí thiên tài, Tết Mậu Dần 1998, Huy Cận viết: “Tôi có đọc bài của Đỗ Thúc Trâm viết về tranh sơn dầu của anh… Rồi tôi và Xuân Diệu lên chơi ở xưởng họa sĩ của anh (xưởng sơn mài) ở đường Quần Ngựa (nay là đường Hoàng Hoa Thám, Hà Nội). Có lúc anh vừa nói chuyện với chúng tôi, tay vừa mài tranh sơn mài ngâm trong “bể” nước.

Anh mài say sưa, rõ ràng mài không phải là động tác cơ học mà là một hoạt động sáng tạo… Bức tranh sơn mài cỡ lớn nổi tiếng đầu tiên của anh là Thiếu nữ bên Hồ Gươm. Xem anh vẽ trên những pa-nô gỗ lớn, xem anh mài trong cái “lò cừ” của anh, tôi nghĩ đến Michel Angelo tay cầm búa to tạc tượng đá giữa đêm khuya…”.

Thời gian này, hội họa Việt Nam hiện đại đã có khởi sắc bước đầu. Như trường hợp Tô Ngọc Vân, học khoá II Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, sau khi ra trường đã đạt được thành công trong mấy cuộc Triển lãm Mỹ thuật ở Pháp, và từ năm 1935 đã nhận một chân dạy hội họa tại Phnôm Pênh (Campuchia). Rồi Nguyễn Tường Lân đã thể hiện một cái nhìn rất mới lạ trên tranh lụa.

Có một số họa sĩ của Trường Mỹ thuật Đông Dương như Lê Phổ, Phạm Hậu, Nguyễn Khang, Trần Quang Trân đã chuyên chú vào sơn ta, tìm tòi sáng tác bằng chất liệu này. Nhưng, phải đến Nguyễn Gia Trí thì sơn ta mới thành một chất liệu nghệ thuật hội họa mà chúng ta gọi là sơn mài, và những bức tranh của ông thực sự là những tác phẩm tạo hình đầy sức cuốn hút.

Mặc dù những bức tranh sơn mài nổi tiếng đầu tiên của Nguyễn Gia Trí đã được công chúng nghệ thuật tán thưởng, các nhà mỹ thuật của Pháp còn chưa muốn công nhận, chỉ coi đó là một loại sản phẩm mỹ nghệ. Còn Nguyễn Gia Trí, từng cho rằng “nhà trường (Mỹ thuật Đông Dương) không dạy gì hay hơn!”, nên ông cứ sáng tạo theo cảm hứng của một tài hoa độc đáo.

Năm 1938, khi tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí được đem bày tại một cuộc triển lãm lớn tại Hà Nội, công chúng hết sức tán thưởng, và họa sĩ Tô Ngọc Vân đã khẳng định trong một bài báo: “Đến cuộc thí nghiệm của Nguyễn Gia Trí, lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở óc, ở tâm hồn người ấy, nó đã được nâng lên thành mỹ thuật thượng đẳng…”.

Trong hồi ức của mình, Huy Cận có nói riêng về tranh minh họa của Nguyễn Gia Trí “cực kỳ đẹp, là những bức tranh sáng tạo”. Huy Cận viết:

“Một ngày kia, ai đó có công sưu tầm những bức minh họa trên báo Ngày Nay thì sẽ làm được một Album mỹ thuật rất giá trị. Có những lần tôi ngồi ở Tòa soạn báo Ngày Nay xem anh vẽ minh họa bằng bút sắt và mực tàu. Dưới ngòi bút của anh, cảnh vật và nhân vật cứ hiện lên vùn vụt, như từ một lò tạo hoá mà tuôn ra. Anh vẽ như thế một mạch, không cần chữa đi, chữa lại lần nào. Thật có cảm giác anh là một sức mạnh của thiên nhiên, của tạo hóa”.

Tuy nhiên, tài năng xuất chúng của Nguyễn Gia Trí thể hiện đầy đủ nhất ở tranh sơn mài. Câu nói truyền nhau trong đời sống nghệ thuật từ những năm bốn mươi của thế kỷ XX: “nhất Trí, nhì Lân, tam Vân, tứ Cẩn” cho thấy tầm mức cũng như vai trò tiên phong của ông trong nền mỹ thuật Việt Nam.

Tranh Nguyễn Gia Trí không nhằm thể hiện chủ nghĩa lãng mạn với những vẻ “tân thời” rất được ưa chuộng ở những đô thị lớn nước ta nửa đầu thế kỷ XX; mà tranh của ông là sự sống Việt Nam, qua tư duy trữ tình của ông, thành nghệ thuật, thăng hoa trong ánh lộng lẫy của sơn son thếp vàng truyền thống. Nó có mang hồn dân tộc.

Những bức tranh như Ai mua rươi ra mua, Thiếu nữ bên hồ sen, Vườn xuân Trung-Nam-Bắc… thực sự mang những vẻ đẹp diễm lệ. Chúng tôi đồng cảm vời ký giả Nhật Nam, khi ông coi những bức tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí là “bản du ca tôn giáo đầy sắc màu của sự sống. Đây chính là khoảng cách mong manh giữa gánh nặng trần thế và cõi siêu thoát mà họa sĩ đã để lại cho hậu thế; nó giúp ta hiểu cái mê hoặc ngót nửa thế kỷ qua và còn mãi mãi nơi nghệ thuật Nguyễn Gia Trí” (Tạp chí Hà Nội Ngàn Năm, số 4/2005).

Qua lao động rất nhẫn nại của người vẽ sơn mài, Nguyễn Gia Trí đã sáng tạo liên tiếp những tác phẩm mỹ thuật mang dấu ấn của riêng ông. Những năm bốn mươi của thế kỷ trước, tranh Nguyễn Gia Trí được công chúng nghệ thuật vô cùng yêu thích, hễ họa sĩ vẽ xong một bức là có người xin được xem và có người muốn mua.

Tác phẩm của ông cứ ra đời là hoặc được đón về treo ở các dinh thự, hoặc là các nhà sưu tầm tìm đến mua ngay. Tác phẩm của Ngyễn Gia Trí nhanh chóng “sống” trong đời sống một cách tự nhiên, như một sinh mệnh ra đời, có sức lực thì sống tự nhiên trong xã hội vậy.

Những năm có chiến tranh chống Pháp, Nguyễn Gia Trí vẫn vẽ, ông chỉ biết vẽ, và chỉ có thể sống bằng cách vẽ tranh mà thôi. Có những năm ông bươn trải sống bằng nghề vẽ tranh ở Trung Quốc, Hồng Kông. Vẽ để sống, nên tranh của ông cứ thế mà sống ở những nơi ông đến vẽ rồi ra đi. Có lẽ chính họa sĩ cũng không biết là mình có bao nhiêu tác phẩm và được người ta treo ở những nơi nào…

Điều quan trọng nhất thì Nguyễn Gia Trí luôn luôn biết, đó là ông vẽ sơn mài, là làm nên cái đẹp vàng son của dân tộc mình mà trao cho đời sống, ở nơi đâu có người cần nó thì ông trao cho…

Đến năm 1950, Nguyễn Gia Trí về nước. Đang chiến tranh kháng Pháp. Ông chỉ biết vẽ, làm một cuộc đi Hải Phòng, để vẽ. Là một nghệ sĩ với cá tính mạnh, Nguyễn Gia Trí có chống lại chính quyền thực dân đang chiếm đóng Hải Phòng.

Ông bị thực dân Pháp bắt, đưa đi an trí tại Thủ Dầu Một (Bình Dương). Đến năm 1953, được trả tự do, ông về Sài Gòn, vẽ và sống bằng nghề vẽ. Chưa kịp trở về quê nhà thì có Hiệp định chia đôi đất nước, Nguyễn Gia Trí cư ngụ tại Sài Gòn từ đó.

Là một hiện tượng đẹp đẽ lạ thường xuất hiện ngay từ buổi đầu của nền Mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Nguyễn Gia Trí có danh tiếng lớn, và ông biết giữ gìn nó. Nghe tiếng danh họa nguyễn Gia Trí, Tổng thống Cộng hoà miền Nam Ngô Đình Diệm lúc bấy giờ có mời ông vẽ tranh cho ông ta. Nhưng Nguyễn Gia Trí từ chối với lý do ông chỉ có thể vẽ đẹp những gì ông yêu thích, như thiên nhiên, cây cỏ Việt Nam, hay phụ nữ đẹp…

Ông sáng tác liên tục cho đến năm 1993 thì qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh. Theo lời kể của Huy Cận, Nguyễn Gia Trí luôn luôn thương nhớ quê hương. Cuối đời, lòng nhớ thương ấy thể hiện trên tác phẩm sơn mài lớn Nhớ quê hương miền Bắc.

Một dạo báo chí có đưa tin chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh muốn mua tác phẩm của Nguyễn Gia Trí với giá cao kỷ lục ở Việt Nam. Nhà thơ Huy Cận thỉnh thoảng có vào Sài Gòn thăm họa sĩ Nguyễn Gia Trí. Như Huy Cận viết:

“Có lần đàm đạo về nghệ thuật, về hiện thực và tượng trưng, anh Trí vừa cười vừa nói: “Nghệ thuật nào mà không hiện thực và không tượng trưng? Ông xem, trong tranh sơn mài, trời lại đỏ hoặc màu son. Đó là ước lệ, là tượng trưng. Nghệ thuật bắt buộc phải tượng trưng; nhưng tượng trưng để mà nói cái bề sâu, cái cốt lõi của hiện thực…””.

Nguyễn Gia Trí là vậy đấy, sức toả sáng rực rỡ của tên tuổi ông trên bầu trời hội họa Việt Nam không được tạo bởi những giải thưởng to tát, mà khởi nguồn từ tài năng thiên phú, lao động hết mình và tầm suy nghĩ sâu xa, phần nào thể hiện qua câu ông nói với Huy Cận!

 
 
 
Nguyễn Gia Trí, bậc đạo sư của sơn mài nghệ thuật.


“Tôi làm sơn mài từ khi nó mới có, nên
tuổi của tôi cùng tuổi với sơn mài. Tôi sống với nó như cá sống với
nước nên không biết mình sống nữa”
.


Đó là lời họa sĩ Nguyễn Gia Trí nói với họa sĩ trẻ Nguyễn Xuân Việt, người mà ông nhận làm đệ tử vào những năm cuối đời. [1]









Đã
90 năm từ ngày cậu Trí ra đời trong một làng quê vùng đá ong Bắc Bộ
(làng An Tràng, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông). Giấy CMND của ông sau
này ghi ông sinh ngày 6 tháng 10 năm 1912, nhưng ông Trí cùng mọi người
thân đều khẳng định ông sinh năm 1908 (Kỷ Dậu). Không có tài liệu nói
rõ về gia thế ông. Sinh thời ông Trí chỉ kể sơ với vợ con: cụ tổ Nguyễn
Gia Phúc là người chuyên thêu y phục triều đình, đến đời ông thân sinh
là Nguyễn Gia Cư còn làm công việc ấy. Chỉ riêng một việc ba anh em
ruột: Nguyễn Gia Tường là giáo sư nổi tiếng của Collège Bưởi, Nguyễn
Gia Trí học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ngành hội hoạ (theo hoạ sĩ
Hoàng Tích Chù [2]
thì ông Trí học Collège Bưởi rồi thi ngay vào CĐMT, bà Trí lại cho biết
chồng mình có kể rằng ông đã theo học trường Y một thời gian rồi mới bỏ
đi học vẽ), Nguyễn Gia Đức học CĐMT ngành Kiến trúc (và sau này trở
thành một kiến trúc sư hàng đầu), cũng khiến ta hình dung được môi
trường văn hoá gia đình rất thuận lợi cho một người đi vào con đường
nghệ thuật.


Tài năng của Trí nhanh chóng nổi bật trong trường cùng
với tính khí có phần ương bướng của ông. Vào trường năm 1928 nhưng ông
bỏ học ở năm thứ hai. Theo HS Hoàng Tích Chù thì hiệu trưởng Victor
Tardieu [3]
phục tài người sinh viên này nhưng không ưa anh, những lần có khách vào
thăm trường, ông ta thường cố ý đứng che tranh của anh. Vậy mà mấy năm
sau, chính ông lại là người chủ động gọi anh về học lại. Ông Trí kể: “Học
đến năm thứ hai tôi không chịu được nhà trường nên bỏ. Sau vì có khoa
sơn mài nên học lại. Giờ académique (vẽ hàn lâm) buổi sáng là một cực
hình. Chỉ mong đến chiều để làm sơn mài.”
Vậy là Nguyễn Gia Trí lại
trở thành sinh viên khoá 7 Trường CĐMT Đông Dương (1931-1938). Và chính
trong thời gian này, cùng với một số bạn đồng học, ông đã mở ra con
đường đưa “sơn ta” của mỹ nghệ truyền thống trở thành “sơn mài” - chất liệu hội hoạ đặc sắc của Việt Nam.









Có nhiều giai thoại về tài năng của Nguyễn Gia Trí nắm
bắt rất nhanh thực tại và thể hiện cái thần của nó trong vài nét bút.
HS Hoàng Tích Chù hay kể về chuyến đi ký họa Chợ Bờ. Cả lớp đi từ sáng
sớm, riêng Trí thì quá trưa mới tới, ngồi sau xe đạp một người bạn. Anh
đảo một vòng rồi đi về. Ông thầy Inguimberty [4] - người rất yêu quí Trí và Trí thường gọi là "Cụ I"
- hỏi bài vẽ đâu, Trí rút trong túi áo ra một mảnh giấy: chỉ vài nét,
cảnh Chợ Bờ hiện lên sinh động hơn tất cả các bức vẽ tỉ mỉ của những
người khác. Sau này, người ta đón đợi hàng ngày những minh hoạ, hí họa
kỳ tài của Nguyễn Gia Trí trên các báo Ngày nay, Phong hoá như "Ai mua rươi ra mua",
hay chân dung Thống sứ Châtel... Những phác hoạ lá sen tàn sống động
đến từng gân lá gãy, những dáng thiếu nữ "tân thời" uyển chuyển đầy gợi
cảm... Tất cả đều ở trình độ bậc thầy về tả thực. Điều quí nhất là
những hình họa tuyệt vời của Nguyễn Gia Trí sẽ trở thành "than cho Trí dùng quanh năm" như Inguimberty nói đùa [5],
tức là những tài liệu để ông bố cục các tác phẩm sơn mài. Trong những
tác phẩm này, mặc dù được thể hiện cách điệu, những lá tre, cành tùng,
bông sen, đôi bướm vờn, những dáng người đi, đứng, nằm... không những
rất thực mà còn rất sống động trong vẻ tự nhiên tươi mưởi của những ký
hoạ trực tiếp. Chính đó là yếu tố đầu tiên khiến cho sơn mài Nguyễn Gia
Trí có tư cách hội hoạ nghệ thuật, thoát khỏi thân phận trang trí với
các hình hoạ nhạt nhẽo vô hồn.


Song những sáng tạo của ông về chất liệu mới thực sự làm nên cuộc cách mạng sơn mài.


“Tranh không có đề tài. Đề tài chính là chất liệu sơn mài." Câu ấy ông Trí nói sau nửa thế kỷ sống với sơn mài. “Cái lý riêng" của sơn mài ông đã “ngộ" ngay từ buổi sơ duyên. Ông kể: “Khi
đi học tôi làm phác thảo sơn mài một tuần không được. Ông thầy hỏi:
Cảnh Hòn Gai đấy hả? Vì thấy trời đen đất đen. Lúc ấy tôi cũng tự hỏi:
Sao ngói đỏ tường trắng mà trời đen đất đen? Và tôi chợt hiểu ra: Sơn
mài có cái lý riêng của nó. Sơn mài khác hẳn sơn dầu".



Thực tình, ông Trí còn phải trải qua những chiêm nghiệm
trong lao động nghệ thuật mới thấm thía đến máu thịt cái chân lý ấy.
Nên biết rằng tuy ông không vẽ nhiều sơn dầu, nhưng những tác phẩm chất
liệu ấy của ông được đồng nghiệp đánh giá rất cao, và những kỹ năng sớm
đạt tới đỉnh về bố cục, tạo không gian ba chiều... trong khi nghiên cứu
sơn dầu đã đóng góp không nhỏ vào thành công của ông ở sơn mài.


Một tác giả người Pháp chuyên viết về mỹ thuật Việt Nam
đương thời đã nhận xét: Nguyễn Gia Trí có một giai đoạn ngắn dường như
cố gắng làm cho sắc độ của con người, cây cối, thú vật, quần áo trong
tranh ông đạt được sự chân thực hoàn hảo. Nhưng ông đã nhanh chóng từ
bỏ nỗ lực ấy để chỉ chú tâm vào các phương tiện của sơn mài. Và tác giả
khẳng định, ý tưởng chủ chốt của Nguyễn Gia Trí: nâng sơn mài lên trình
độ của sơn dầu không có nghĩa là vẽ tranh sơn dầu bằng chất liệu sơn
mài. [6]


Sơn mài khác hẳn sơn dầu ở chỗ mặt tranh phẳng gần như tuyệt đối. “Con ruồi đậu trên vóc cũng làm vóc lún xuống"
(Nguyễn Gia Trí). Không gian của nó lặn vào bên trong rất sâu, đó là
“tính âm" của nó, cũng như các màu cơ bản vàng - son - đen (then) theo
ông Trí là các màu “ngả về âm” - màu của không gian
đình chùa cung điện xưa, và nhịp của nó là nhịp chậm - sơn mài hình
thành từ từ qua từng công đọan vẽ, sơn, ủ, mài... Và chính những đặc
điểm ấy tạo ra thách đố rất gay gắt đối với những ai đã học kỹ thuật
sơn dầu, là thứ chất liệu đòi hỏi sự truyền cảm trực tiếp, bộc phát vào
những “touche, tache” (nét, mảng) gồ ghề đầy “tính dương”.




"Đám cưới nhà quê"






Không riêng một mình Nguyễn Gia Trí đã phát triển bảng
màu của sơn mài để nó đủ sức diễn tả thực tại phong phú trước mắt người
hoạ sĩ, ông cũng không phải người duy nhất có ý thức dùng sắc độ để tạo
nông sâu trên mặt phẳng sơn mài, nhưng ông là người đã đẩy những tìm
tòi ấy đến mức tuyệt kỹ để trực truyền mọi cảm xúc, rung động mãnh liệt
hay tinh tế đến mức “người với tranh là một không còn phân biệt" và mở ra thế giới rộng lớn qua “cánh cửa rất hẹp”, hẹp đến khe khắt của sơn mài.


Những lời bình luận sau đây của HS Tô Ngọc Vân giúp ta
hình dung sức truyền cảm ma quái của “sơn ta” dưới bàn tay phù thủy
Nguyễn Gia Trí: “Trên những màu hồng nhợt biến hoá,
những sắc nâu ngon thiệt là ngon, những vỏ trứng như đổi cả thể chất
thành quí vật, vài nét bạc, vài nét vàng sáng rọi, rung lên, rít lên
như tiếng kêu sung sướng của xác thịt khi vào cực lạc. Chàng nghệ sĩ ấy
yêu tấm sơn như ta có thể yêu một người đàn bà. Lúc âu yếm bằng những
nét vuốt ve mềm mại, lúc dữ dội bằng năm bảy nét quệt mạnh đập tung,
cào cấu"... “Trong những hình sắc ấy như ẩn hiện một chút gì huyền ảo,
đắm say, nồng nàn còn run rẩy trong bóng tối hoà với máu, một sức sống
còn bế tắc, một linh hồn kiên quyết, đam mê, đang quằn quại vì muốn
thoát nhanh ra ngoài ánh sáng."
[7]


Trong các tuyệt kỹ của Nguyễn Gia Trí, nhiều hoạ sĩ sơn mài bái phục tài “luyện vỏ trứng”.
Dưới tay ông, vỏ trứng từ một vật cứng trở thành mềm mại và tạo ra đủ
sắc thái của màu và ánh sáng trắng. Lúc như một thứ men rạn cổ kính,
lúc loé lên trên nền đen như được soi bằng những ánh đuốc đêm hoa đăng,
lúc đông đặc như cẩm thạch, lúc kết tinh như kim cương, lúc mỏng mờ như
trận mưa các giọt sữa, lúc rờn rợn bóng tối hư ảo trên tường rêu đêm Bồ
Tùng Linh... Cho đến nay chưa ai học được bí quyết “mài bạt" vỏ trứng
của ông. Đó cũng là một lý do người ta khẳng định không ai có thể làm
giả một tác phẩm sơn mài Nguyễn Gia Trí.


Về cuối đời, ông có đôi lần bộc lộ với người đệ tử gần như duy nhất của mình phương châm xử lý vỏ trứng: “Mài
đứt, phá hết các tướng cũ của vỏ trứng rồi nối lại. Luôn luôn phá hết
các tướng hiện ra, phá tướng, không phải thêm tướng. Bớt nữa, bớt mãi,
đứt nữa, đứt mãi để cho vỏ trứng có triển vọng đẹp còn lại."



Phương châm là thế, nhưng thực hiện thế nào đó là điều
không thể dạy. Mài đến đâu thì ngừng, đến đâu thì đạt hiệu quả tối ưu,
tất cả phụ thuộc cảm nhận tức thời của họa sĩ. Năng lực cảm nhận ấy là
quyết định, vì Nguyễn Gia Trí tin rằng “chất liệu sơn mài có nhiều ngẫu nhiên", nó “hiện lên như thiên thành".


Niềm tin nói trên có nguồn gốc sâu xa ở quan niệm tâm linh của ông về sáng tạo nghệ thuật: “Tìm
tòi và sáng tạo với tất cả linh tính. Không phải sáng tạo bằng mắt,
bằng tay, mà gần như người mù sờ soạng, mò mẫm trong đêm tối để tìm cái
đẹp. Như người mẹ mang thai không thể bắt con mình là gái hay trai, đẹp
hay xấu, mà cầu mong ở con người mình, ở chính phúc đức và chính thể
chất của mình sẽ sinh ra đứa con lành lặn đẹp đẽ.”



Vì nguyên lý ấy, trong qui trình thực hiện một tấm sơn
mài, ông Trí chỉ dùng thợ để lên kín các hình phác thảo của mình và mài
phẳng, qua ba đợt, để rồi chính tay ông mài phá, xoá và sửa cả ba lần
rồi mới làm lại lần cuối. Bà Trí [8] kể: Có lần đêm rất khuya thấy ông ngồi trong bóng tối mài tranh, bà hỏi thấy gì mà mài, ông trả lời: “Tôi đâu có vẽ bằng mắt."




Sơn mài 1944






Hầu như không bao giờ Nguyễn Gia Trí thoả mãn với bức
tranh. Tác phẩm nào ông cũng coi như một thử nghiệm, một "bài tập" để
khám phá sơn mài. Đổ bao nhiêu vàng bạc vào tranh, ông không đắn đo,
nhưng ông cũng không do dự phá bỏ hết để làm lại. Không chỉ một lần bà
Trí phải đem giấu tranh đi để giao cho khách, nếu không ông vẫn đòi sửa
tiếp. Có khi tranh bà đã giao đi một tuần rồi ông còn hỏi tranh đâu?
Ông Trí nói: “Phải đi qua cái hỏng thì mới đến cái được. Ở chỗ mấp mé."
Chỗ mấp mé là chỗ của nghệ thuật, giữa vụng và khéo, giữa đủ và thiếu,
giữa xong và chưa xong. Đó cũng là chỗ của người thấm nhuần đạo âm
dương, lẽ biến dịch của phương Đông.


Cái mốc đầu tiên đánh dấu việc sơn mài Việt Nam chính
thức gia nhập nền hội hoạ là cuộc triển lãm năm 1938 do Trường CĐMT
Đông Dương tổ chức. Đứng trước các tác phẩm của Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc
Vân đã tự hào khẳng định: "Lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở đó, ở tâm hồn người ấy ra, nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng." [9]]


Những năm sau đó là thời kỳ tìm tòi sáng tạo đầy sung
mãn của Nguyễn Gia Trí để hoàn thiện kỹ thuật và phong cách riêng của
mình. Ông lập xưởng vẽ riêng ở làng Thịnh Hào, Ngã Tư Sở (Một điều thú
vị là những thợ mài của Nguyễn Gia Trí lúc ấy sau này đều nổi tiếng
trong các ngành nghệ thuật: Kim Lân nhà văn, Nguyễn Trọng Hợp họa sĩ,
Nguyễn Đăng Bảy nhà quay phim).


Những năm 1940 Nguyễn Gia Trí là hoạ sĩ thành công nhất
ở Việt Nam. Tác phẩm của ông được tính giá theo tấc và hầu như chỉ dân
Tây thượng lưu có khả năng mua. Họ đặt tranh ngay từ khi mới trông thấy
phác thảo. Hai vợ chồng Công sứ Cresson xắn quần nhấc váy lội nước vào
làng Thịnh Hào để lấy tranh. Họ gọi ông là “Génie Asiatique”
(Thiên tài châu Á). Họ bảo lãnh ông ra khỏi nhà tù khi ông bị bắt vì
hoạt động chống Tây (Theo HS Hoàng Tích Chù thì ông Trí bị bắt quả tang
chứa vũ khí trong xưởng vẽ, những vũ khí chính ông mua bằng tiền bán
tranh cho Tây. Theo nhà báo Trần Phong Giao thì ông bị Tây bắt tới ba
lần, lần cuối bị đưa vào Nam an trí ở Thủ Dầu Một. Song lúc này ta hãy
tạm chưa nói đến Nguyễn Gia Trí nhà chính trị để tập trung nói về
Nguyễn Gia Trí con người yêu nước trong nghệ thuật). [10]


Những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Gia Trí từ 1938 đến trước 1945 thường được nhắc đến là: "Chợ Bờ", "Bên Hồ Gươm", "Chùa Thầy", "Đèn Trung thu", "Đêm Bồ Tùng Linh"," Khoả thân", "Cảnh Thiên Thai"
(đây là tấm tranh khổ lớn được Toàn quyền Đông Dương Decoux đặt làm sau
khi ông Trí ra khỏi trại giam Vụ Bản năm 1943, một số tài liệu nói là
hiện vẫn còn trong Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, song nhiều người theo dõi sát
về mỹ thuật cho biết là sau 1954, khi ta tiếp quản thủ đô tranh ấy đã
biến mất rồi), "Thiếu nữ bên hoa phù dung" (Sau
1954 tranh này thuộc tài sản của nhà sưu tập Đức Minh, một thời gian
dài được Phủ Chủ tịch mượn để treo trong phòng khách của Hồ Chủ tịch,
hiện nằm trong sưu tập của ông Bùi Quốc Chí, con trai ông Đức Minh đã
quá cố, ở TPHCM), "Thiếu nữ trong vườn" (tác phẩm
cỡ lớn nhất trong cả đời sáng tác của Nguyễn Gia Trí, gồm 6 tấm, tổng
cộng 12 m2, bán cho ông bà Drouin, Giám đốc Sở Điện Nước miền Bắc Đông
Dương), "Thiếu nữ bên hồ sen", "Giáng sinh"...




"Bên đầm sen"






Đề tài và tinh thần chủ đạo của các tác phẩm Nguyễn Gia Trí trong giai đoạn này, theo nhận xét của tạp chí Indochine: [11] “Chúng
dìu ta trên cánh mộng qua những truyền thuyết Việt Nam hay vào một
không gian đẫm nhục cảm... Hoa, thiếu nữ và thơ, nhạc, ẩn chứa trong
một chất liệu lơi lỏng một cách cố ý".
Tác giả người Pháp còn cho rằng “những
người đàn bà này (nhân vật của Nguyễn Gia Trí) gợi lên vẻ thanh lịch
của một Watteau (hoạ sĩ Pháp 1684-1721), sự nhẹ nhõm của một bức phác
hoạ thế kỷ 18 của Pháp, những sức xuân thần kỳ của một Botticelli (hoạ
sĩ Ý 1445-1510)".



"Thiếu nữ bên hồ sen" là tác phẩm
khổ 1,2x2,4 m, được làm vào khoảng năm 1940. Lúc ấy Nhật mới vào Việt
Nam, một thời gian khó khăn về nguyên liệu, không có gỗ mít để làm vóc
nên tấm tranh này chóng bị nứt. Nó đã vào Sài Gòn từ trước 1945, thuộc
tài sản của ông Vũ Văn Hải (sau trở thành Đổng lý Văn phòng của ông Ngô
Đình Diệm), và được đích thân HS Nguyễn Gia Trí sữa chữa vào năm 1963
(ông có ký tên xác nhận việc ấy ngay trên tranh). Sau 1975, vợ chồng
hoạ sĩ Bùi Quang Ngọc vét hết tiền mặt và bán chiếc xe Honda PC, tài
sản duy nhất có giá trị trong nhà, để mua lại bức tranh này (tức là
tổng cộng khoảng vài chỉ vàng). Tiếc rằng mấy chỗ nứt không khắc phục
được, song mặt tranh vẫn giữ được màu sắc và nguyên vẹn các hoạ hình
thể hiện tài năng đang hồi sung sức của Nguyễn Gia Trí.


Tác phẩm là minh chứng rõ rệt tinh thần cân bằng, hài hoà mà ông Trí vẫn chủ trương: “Nghệ thuật là sự thăng bằng. Tình cảm thăng bằng, bố cục thăng bằng.”


Trên cái nền sương khói tạo bởi “teng” bạc (bạc oxy hoá
qua thời gian, một thứ “thiên thành” như đồ cổ lên nước) hiện lên từng
lớp cây lá nhiều vẻ - trong đó những chiếc lá sen tàn được thể hiện
thần tình, mỏng tang với những gân mảnh tinh tế đến khó tin. Sau cành
lá thưa, một tốp người nữ bố cục thành một nửa vòng: ở tiền diện bên
trái là một thiếu phụ tay vịn cành, lả mình để tay kia vươn hái một
bông sen, phía bên phải tranh, hơi lui vào là một thiếu phụ ngồi chống
một chân, tay cầm quạt, cả hai đều có vẻ mặt và tư thế thanh lịch và
thư thái, đàng sau người cầm quạt là hai chị em gái nhỏ tuổi chạy chơi.
Tốp này làm thành một vòng tĩnh và nửa động phía ngoài để rồi trung tâm
bức tranh cuốn người xem vào ba cô thiếu nữ uyển chuyển ở ba vị trí tạo
ra cảm giác xoay vòng ngây ngất: cô thứ nhất ngoảnh 2 phần 3 ra phía
trước, cô thứ hai quay nghiêng nửa người và cô thứ ba gần như hoàn
thành vòng xoay với gần hết phía sau quay ra ngoài, phần mông nảy tròn
và đuôi tóc dài hất lên. Ba cô gái được tôn hẳn lên trên nền đen sâu
thẳm của không gian trống - trời và nước. [12]


Những yếu tố căn bản của sơn mài Nguyễn Gia Trí đã thấy
rõ trong tác phẩm này: Sự tôn vinh vẻ đẹp hài hoà tinh thần với nhục
thể của các thiếu nữ "tân thời" áo dài thon thả phơi phới giữa thiên
nhiên dào dạt - đặc biệt vòng “rondo ba cô gái" sẽ trở thành mô-típ
tiêu biểu của các bố cục “phụ nữ trong vườn” theo đuổi ông cho đến hết
cuộc đời. Một chi tiết nên biết: nguyên mẫu thiếu phụ cầm quạt trong
tranh là “Cô Sáu” cũng chính là người mẫu cho HS Tô Ngọc Vân vẽ bức
"Thiếu nữ bên hoa Lys". (Không biết cô có quan hệ gì hơn nữa với HS
Nguyễn Gia Trí hay không, nhưng HS Hoàng Tích Chù lúc vui chuyện có kể
rằng bà mẹ của ông Trí rất nghiêm, một hôm bà bất thần đến xưởng vẽ của
con trai, ông Trí cuống quýt giấu cô mẫu của mình vào phòng tắm). Bố
cục không gian “hình cầu" chứ không phải không gian dẹp quen thuộc của
sơn mài “trước Trí". Kỹ thuật dùng sắc độ, tương quan để diễn tả ánh
sáng lung linh trên áo và chất vải, lụa, nhung, diễn tả không khí,
không gian nhiều tầng ở đây đã rất điêu luyện. Riêng vỏ trứng thì bức
này đang trong bước thử nghiệm, nhưng đã khá mềm mại để tạo màu trắng
của mặt, tay người và hoa văn trên áo.


Một tác phẩm độc đáo của ông có đề tài Kitô giáo là bức "Giáng sinh"
thực hiện năm 1941 do một “bà đầm" đặt để tặng dòng tu Đa Minh. Bức
tranh ba tấm có kích thước tổng cộng 1,3x2,37 m. Điểm độc đáo nhất của
tranh này là Nguyễn Gia Trí đã Việt hoá hoàn toàn quang cảnh và các
nhân vật trong Kinh Thánh. Ba vị thiên thần đứng trên mây là ba cô “tân
thời" duyên dáng trong tà áo dài màu lam, lục và trắng - một trong ba
cô gảy đàn tì bà! Ông Giuse và Đức Mẹ là hai ông bà nhà quê áo sồi quần
gụ. Ba người trong bóng tối góc bên phải đầy tính biểu hiện: ba trạng
thái tinh thần của chúng sinh - người thành kính hướng về Chúa Hài đồng
là kẻ đã có niềm tin, người thản nhiên nhìn ra ngoài là kẻ bàng quan,
người nằm nghiêng gối đầu trên cánh tay say ngủ là kẻ còn chìm đắm
trong u mê. Và thay cho máng cỏ chuồng lừa hang đá, ở đây là cái chuồng
trâu với một con trâu trắng!




Đêm






Về mặt nghệ thuật, đáng chú ý là việc sử dụng vàng để
tạo ánh sáng huy hoàng, và việc sử dụng màu xanh lam và lục trong sơn
mài (đây có thể là một trong những sơn mài đầu tiên bổ sung gam màu
xanh vào bảng màu vàng son đen truyền thống).


Tác phẩm này đã chịu kiếp lưu lạc cùng thời cuộc: Năm
1954, trước khi Hà Nội về tay chính phủ kháng chiến, Tu viện Teresa đã
đưa nó qua nhà dòng chính quốc ở Lyon. Các vị tu sĩ ở Couvent Le
Corbusier chắc là không hiểu giá trị của tấm tranh nên để nó dưới sàn
phòng nguyện, quay mặt sau ra làm... bảng viết. Năm 1955, Linh mục
Pineau của dòng Đa Minh được cử sang Sài Gòn, biết việc ấy đã xin đưa
tấm tranh trở lại Việt Nam. Đến cuối 1959 đầu 1960 mới đưa được về Sài
Gòn, và từ đó nó nằm ở Nhà nguyện Dòng Mai Khôi đường Tú Xương cho đến
nay. Năm 1990, theo yêu cầu của nhà tu, HS Nguyễn Gia Trí đã cho đệ tử
là Nguyễn Xuân Việt gia cố góc trái tấm tranh bị bong do để ẩm. Linh
mục Thiện Cẩm, bề trên dòng Mai Khôi, người cung cấp cho tôi lịch sử
tấm tranh này, cho biết: trước đây có một vị Khâm sứ Toà thánh Vatican
ngỏ ý muốn mua tác phẩm độc đáo này, ông sẵn sàng chịu giá 1 triệu đồng
(tiền Sài Gòn cũ).


Giai đoạn thứ hai của sự nghiệp Nguyễn Gia Trí kéo dài
gần 40 năm sau của đời ông gắn bó với Sài Gòn - TPHCM kể từ năm 1954
đến khi ông qua đời (20/6/1993), song chủ yếu 20 năm 1954-1975 là thời
kỳ ông có điều kiện thuận lợi nhất để hoàn thiện nghệ thuật sơn mài.


Những tác phẩm quan trọng nhất của Nguyễn Gia Trí sau 1954: Bộ lịch sử Việt Nam gồm các bức "Địa linh hoán tượng", "Hai Bà Trưng", "Trận Bạch Đằng" (cùng với hai tranh khác do ông Ngô Đình Diệm đặt với “tiền riêng” hơn một triệu đồng vào những năm 1957-1958), "Ba Vua" (1960), bộ tranh cho Thư viện Quốc gia gồm ba bức "Hoài niệm xứ Bắc", "Trừu tượng", "Múa dưới trăng" (1968-1969), "Vườn xuân" (1970)... và tác phẩm cuối cùng "Vườn xuân Trung Nam Bắc" thực hiện kéo dài trong nhiều năm.


"Ba Vua" là tấm tranh về đề tài
Giáng sinh thứ hai của Nguyễn Gia Trí, thoạt tiên thực hiện theo
com-măng của ông Diệm làm quà tặng La Mã, nhưng khó chịu vì những “góp
ý" của con người quyền thế kia, hoạ sĩ đã thoái thác không giao tranh
nữa và... tặng không cho một người bạn vong niên là một bác sĩ (có tài
liệu nói người được cho tranh là một nhà văn trẻ, sau đó bức tranh mới
về tay ông bác sĩ). Năm 1975, chủ nhân qua Pháp, mang theo bức tranh,
nhưng rồi không hiểu vì lý do gì lại gửi nó về cho gia đình ở trong
nước. Năm 1996, gia đình ông bán bức tranh, người mua được là một nhà
sưu tập có tiếng ở TP HCM.


Tuy chỉ có khuôn khổ khiêm tốn (70x100 cm), nhưng tác
phẩm này là một đỉnh cao toàn diện của tài năng Nguyễn Gia Trí. Một
bảng màu cực kỳ phong phú (có người tỉ mẩn đếm được 22 sắc độ) vừa
nghiêm trầm với các gam màu rượu chát - củ dền, vừa lộng lẫy với ánh
sáng vàng và vỏ trứng, quí giá với màu xanh ngọc, bức tranh có hiệu quả
như tấm tranh kính nhà thờ trong ánh hoàng hôn. Tài nghệ dùng sắc độ để
diễn tả những nếp mềm mại, những biến đổi ánh sáng trên các tấm áo
choàng, đặc biệt là tài xử lý vỏ trứng ở đây đã đến chỗ cực kỳ tinh tế.
Cùng một mảng lớn, nhưng vỏ trứng được mài nông sâu uyển chuyển, có khi
như trong suốt, để lớp màu nền bên dưới ánh lên khác nhau khiến các vật
thể lung linh sống động, và nhất là tạo được sự biểu cảm của các gương
mặt như trong những tranh Phục hưng.


Khi nhận làm ba tác phẩm để đặt trong Thư viện Quốc gia
(nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM), HS Nguyễn Gia Trí quyết
định coi đây là dịp để tổng kết các khả năng của sơn mài cho các thế hệ
sau học hỏi về kỹ thuật để tiếp tục phát triển.


Bức "Hoài niệm xứ Bắc" cố tình làm
theo phong cách trang trí truyền thống với bốn màu tĩnh tại và chắc
chắn: son vàng đen trắng, phối hợp hàng loạt họa tiết vuông thành sắc
cạnh thể hiện những sinh hoạt và vật thể văn hoá cổ truyền Việt Nam: ở
trung tâm là cảnh hội hè đình chùa, bên trên là cảnh Đền Ngọc Sơn, Ô
Quan Chưởng, Văn Miếu, Chùa Một Cột, khung viền xung quanh là các hoạ
tiết cầm kỳ thi hoạ, bánh chưng bánh dày, lan tùng cúc thủy tiên, tam
đa, trà thuốc lào, hạc rùa ngựa lọng... cùng với mấy câu thơ chữ Nôm “Nước non nặng một lời thề, Nước đi đi mãi không về cùng non" ("Thề non nước của Tản Đà).


Bức "Múa dưới trăng" vẫn tiếp tục
đề tài thiếu nữ trong vũ điệu mê li và ánh sáng lung linh, có những
mảng họa sĩ giát vàng rất mỏng lên trên vỏ trứng để tạo ánh sáng trăng
vừa lộng lẫy vừa thanh cao.




"Trừu tượng"






Song đáng lưu ý nhất là bức "Trừu tượng".
Thể loại trừu tượng ông đã thực nghiệm từ những năm đầu tiên của sự
nghiệp mình. HS Hoàng Tích Chù thường nói về một tấm vóc thử màu của
ông Trí, được các đồng nghiệp khen là một “trừu tượng đẹp", ông bèn đặt
tên là “Bouillabaisse” (Món xúp thập cẩm) và có người mua liền. Sau
1954, ông cũng vẽ một số tranh trừu tượng và nửa trừu tượng, trong đó
có bức vẽ cho ông Diệm để làm quà cưới Thái tử Nhật. Nhiều mảng trong
các bức tranh có hình của ông nếu tách riêng ra cũng có thể coi như
tranh trừu tượng. Ông từng nói, bản thân sơn mài giàu tính trừu tượng: “Bắt đầu vẽ sơn mài là đã vẽ trừu tượng rồi". Lại nói: “Tranh trừu tượng là gần tâm hơn cả vì nó tự do không bị trói buộc". Nhưng ông cũng chỉ ra cái khó của thể loại này: “Tranh
trừu tượng như nhốt một đàn thú chung một chuồng. Các hình, nét, màu
sắc, chất... thiên sai vạn biệt, chỉ tâm ‘từ’ mới hoà hợp chúng thành
nhất phiến."



Bức trừu tượng ở thư viện là bức lớn nhất (1,2x2,4 m)
và tiêu biểu nhất. Người ta nhận thấy trước nhất là sự phong phú của
nó: Đây là một tập hợp hài hoà của nhiều bức trừu tượng, thống nhất
thành một tác phẩm. Các tầng tranh cũng biến đổi, và lượng màu cơ bản
rất ít (đều là màu truyền thống) nhưng biến chuyển nhiều sắc độ, có thể
theo dõi sự chuyển ấy ngay trên một đoạn nét rất mảnh cũng như trên
toàn bộ màu nền. Ở đây nét bút tung hoành phóng khoáng tự do của Nguyễn
Gia Trí khiến ta tưởng chúng chạy một hơi trực tiếp theo cơn tùy hứng
của tác giả như một “action painting” (hội hoạ
động tác) của Jackson Pollock chứ không thể là sự thực hiện qua nhiều
công đoạn nguội của sơn mài. Những nét bút mềm mại thoải mái như nét
bút lông, mảnh tinh như thoáng mực nho nhưng lại có độ sâu và sự bền
chắc chỉ có được ở sơn mài.


Đề tài “Thiếu nữ trong vườn" được Nguyễn Gia Trí thâm canh ngày càng hoàn thiện. Đến bức "Vườn xuân"
năm 1970 (năm ấy là năm Tuất, ông Trí có vẽ lẩn trong đám lá hình một
con chó) thì đã như trăng đến rằm. Mọi thành tựu kỹ thuật trước đó đều
được phát huy hết mức, đặc biệt là thủ pháp để lộ nền son trong những
hình người khiến các nhân vật nhẹ lâng lâng như tan được. Việc xử lý vỏ
trứng ở đây có những sáng tạo mới: vỏ trứng nhoè mờ, ẩn hiện như thủy
mặc, mềm như lụa, ánh vàng kim chiếu ra từ bên trong, từ những kẽ vỏ
trứng như một ánh sáng nội tại huy hoàng, và các nét tinh tế màu đen
chạy trên mặt vỏ trứng khiến ta nhìn thấy được những đường gió cuốn tà
áo dài thiếu nữ. Vẫn là mô-típ ba cô, nhưng có thể thấy sự khác biệt
với ba cô tiền chiến ở vẻ mông lung hư ảo nhiều hơn, phần hồn át hẳn
phần xác, nhịp chân tíu tít, bước chân tung tẩy như không chạm đất, sự
trong trắng phát sáng từ bên trong. Các cô đã rời cõi thế lên tiên
giới. Trong khi đó, các nhân vật nữ ở tiền diện thể hiện ý tưởng ba
miền Bắc Trung Nam: thiếu phụ mặc áo dài kiểu cổ đánh đàn tỳ bà là
người Trung, thiếu phụ người Bắc nằm như trong các tranh tiền chiến
(vẫn là nhân vật trong hoài niệm của tác giả sống xa quê hương), bà già
Nam Bộ đội khăn vẻ mặt ưu tư và cô gái Sài Gòn hồn nhiên trong áo dài
lửng cổ Lệ Xuân.


Bức "Vườn xuân" khổ 1,2 m x 1,8 m nói trên là sáng tác
theo yêu cầu của một người bạn của họa sĩ, bác sĩ Phạm Văn Hải, ông này
muốn có “một tác phẩm để đời" của Nguyễn Gia Trí.
Năm 1975, bác sĩ di tản, bức tranh trong nhà ông đã được một vị tướng
của chế độ mới bán rẻ như biếu không, người may mắn mua được là hoạ sĩ
sơn mài Nguyễn Thanh Liêm. Chính từ cái duyên này, Nguyễn Thanh Liêm đã
kết thân được với gia đình lão hoạ sĩ để rồi làm mai cho TPHCM mua tác
phẩm lớn cuối cùng của ông với giá 600 triệu đồng vào năm 1991 (tương
đương 100.000 đôla), một kỷ lục về giá tranh ở Việt Nam từ trước đến
nay. Gần đây chủ nhân cũ của bức "Vườn xuân" 1970 về nước, ông có tìm
đến thăm lại báu vật xưa. Ông ngồi thẫn thờ hồi lâu nhưng rồi tự an ủi:
“Dù sao tôi cũng vui vì cứ ngỡ cộng sản đã chặt nát mất rồi".


Có thể nói tâm tư về sự thống nhất đất nước thể hiện
trong bức tranh trên là nỗi ám ảnh sâu xa nhất trong những năm cuối đời
HS Nguyễn Gia Trí. Ngay sau bức "Vườn xuân", ông đã cùng bác sĩ Tín
(người sản xuất dầu gió khuynh diệp nổi tiếng ở miền Nam) nhất trí về
bức tranh cỡ lớn với đề tài này, bức “Vườn xuân Trung Nam Bắc" [13].
Bức tranh 9 tấm kích thước tổng cộng 2x5,4 m - bức lớn nhất còn lại của
Nguyễn Gia Trí - mà ông làm cho bác sĩ Tín được tiến hành từ đầu những
năm 70.


Sau 1975, người đặt tranh đã di tản, trong điều kiện
khó khăn của TPHCM một thời kỳ dài, họa sĩ vẫn quyết hoàn thành tác
phẩm lớn mà ông biết sẽ là cuối cùng của đời mình. Để nuôi sống gia
đình một cách khiêm nhường và đầu tư cho tác phẩm này, ông phải làm
những tranh nhỏ để khách mang “chui" ra nước ngoài (vì tranh Nguyễn Gia
Trí đã nằm trong danh mục “văn hoá phẩm quí cấm xuất khẩu").
Vậy mà lúc tranh đang làm dở, có người trả 14 lượng vàng ông không chịu
bán. Mãi cho đến năm 1990, khi UBND TPHCM quyết định mua tác phẩm, nó
vẫn chưa hoàn chỉnh như ý đồ của hoạ sĩ. Một phần vì khó khăn về nguyên
liệu (bà Trí phải bán dần vóc và son để mua từng thếp vàng cho tranh).
Phần quan trọng là vì hoạ sĩ bắt đầu lâm bệnh: trận tai biến mạch máu
não đầu tiên xảy ra vào năm 1988, sau đó còn hai lần nữa trước khi ông
qua đời. Do đó khâu làm vàng mặt tranh ông phải giao phó cho học trò là
Nguyễn Xuân Việt.




"Vườn xuân Trung Nam Bắc"






Tác phẩm "Vườn xuân Trung Nam Bắc"
tổng hợp mọi thành tựu trong nửa thế kỷ tìm tòi sáng tạo về sơn mài của
Nguyễn Gia Trí với những yếu tố của đề tài “thiếu nữ trong vườn" quen
thuộc được bổ sung, đổi mới. Sự cộng hưởng giữa các chất liệu vàng son
vỏ trứng trong bố cục phối hợp nhịp nhàng các hình hoạ khiến bức tranh
như một bản giao hưởng mà mọi thành phần đều vang lên cùng một lúc, lại
như màn vũ kịch trong đó các nhân vật cùng cây lá, nhóm thì tĩnh tại
làm nền cho những nhóm chuyển động với các cấp tiết tấu khác nhau.
Trung tâm bức tranh là nhóm thiếu nữ Trung Nam Bắc trong trang phục hơi
xưa. Cạnh đó là hai đứa bé như trong tranh dân gian cưỡi con kỳ lân
huyền thoại chạy chơi. Phía sau là ngôi miếu cổ nhỏ nhưng trang nghiêm.
Xen với các nét văn hoá truyền thống đó là không khí hiện đại tạo bởi
hai nhóm thiếu nữ áo trắng múa quay tròn. Nếu nhóm bên trái còn giữ mức
tiết tấu vừa phải như trong bức "Vườn xuân" 1970 thì ở ba cô gái bên
phía tay phải, thần bút Nguyễn Gia Trí đã hiện hình được cái ảo, cái
cuộn bay, cảm giác chóng mặt của vũ điệu quay tít có sức quyến rũ ma
thuật, nếu nhìn lâu ắt phải “nhập đồng" theo. Khó hình dung họa sĩ làm
thế nào giữ được cảm xúc một hơi trên cả tấm tranh lớn như vậy qua một
thời gian dài, một sự “xuất thần suốt hai chục năm"
như nhận xét của hoạ sĩ Nguyễn Xuân Việt. Xúc cảm ấy bộc lộ rõ trong
từng mảng vỏ trứng thể hiện tà áo tung bay, trong từng mảng lá phượng
chuyển sắc tinh tế, trong đôi bướm vờn sống động... Với kiệt tác này,
thật sự Nguyễn Gia Trí đã đạt được mong muốn của mình: “Vẽ tranh muốn 10 năm như 1 giờ, vóc trăm cân như không còn trọng lượng." (Khi tác phẩm hoàn thành, cụ Trí nói: “Không phụ lòng anh em.")


Trong lúc gíúp Thầy mình làm tranh, Nguyễn Xuân Việt có hỏi: “Không biết bức này sẽ nằm ở đâu?", cụ bảo: “Đặt vấn đề ấy là thừa." Bởi cụ thường tâm niệm: “Nghệ thuật là vô cầu. Vì vô cầu nên nó hướng đến một cái gì đó rất cao."
Nhưng lịch sử cuối cùng bao giờ cũng công bằng. Tác phẩm tinh túy bậc
nhất của người thầy nghệ thuật sơn mài Việt Nam đã được đặt đúng chỗ:
Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM.


Về con người Nguyễn Gia Trí, chúng ta chưa có điều kiện
hiểu nhiều và cũng có những điều chưa đến lúc nói ra (chủ yếu vì tôn
trọng ý nguyện của gia đình cố hoạ sĩ).


Ông người nhỏ nhắn, gương mặt không có vẻ gì đặc biệt
khác với các trí thức nghiêm túc “thời Tây", nhất là với cặp kính cận
to đeo thường trực. Một nét trong tính cách ai cũng nhận thấy ở ông là
lặng lẽ, ít giao du, ít nói nhưng nói thì lắm lúc khá hài hước. Một
người Pháp kể: Khi tiếp khách đến thăm xưởng, Trí có kiểu “làm dáng" là
tự làm người ta quên mình đi, nếu có ai đề cập quá thẳng đến tài nghệ
của ông thì ông chỉ nói: “Sơn mài đẹp quá!", như thể mình chẳng có vai trò gì trong đó. [14] HS Hoàng Tích Chù kể, khi báo chí hỏi vì sao đi vào hội họa, Nguyễn Gia Trí đã trả lời: “Nghịch mà vẽ".


Đời ông hầu như chỉ có một đam mê duy nhất là ở bên
những tấm vóc sơn mài. Nhà văn Kim Lân nhớ nhất hình ảnh “ông chủ" của
mình ngồi sụp xuống đất mài tranh trong xưởng vẽ. Bà Trí cho biết lịch
sinh hoạt hàng ngày hầu như bất di bất dịch của ông: 5 giờ sáng ngủ
dậy, vệ sinh xong là sang ngay xưởng sắp xếp công việc cho thợ - 7 giờ
về ăn sáng rồi sang xưởng làm việc - 11 giờ 30 về ăn cơm, không ngủ
trưa đến 1 giờ lại sang xưởng - 6, 7 giờ tối về ăn cơm, nghỉ một chút
lại sang xưởng làm việc đến khuya, thường tới 1, 2 giờ sáng. (Sau này
ông nói với Nguyễn Xuân Việt: “Sơn mài khác sơn dầu ở công hạnh", “Vẽ sơn mài có lúc như thợ mộc, như nông dân đi cày".)
Có khi ông không về, bà sang xưởng thì thấy ông đã ngủ thiếp trên chiếc
giường sắt nhà binh mà người cháu đem về từ Biệt điện Bảo Đại trên Đà
Lạt. Mời ông đi chơi thật là khó. Lúc nào ông cũng bảo: “Để tôi trông nhà cho".
Bán bức tranh "Vườn xuân" cho bác sĩ Hải, mua được chiếc xe hơi La
Dalat (hồi đó xe hơi rất đắt), nhưng chẳng bao giờ ông chịu lái chở vợ
đi chơi, ông nói: “Nhờ người khác lái, hoặc đi taxi có lợi hơn".




Cảnh quê






Cũng bởi thế, Nguyễn Gia Trí sống rất giản dị. Tiền ông
làm ra không ít, nhưng ngoài việc đầu tư cho sơn mài, hầu như ông không
có nhu cầu gì lớn. Trong xưởng vẽ trước kia ở làng Thịnh Hào, đồ đạc
của ông cũng chỉ có một chiếc giường cá nhân và một ngăn sách. Giới hoạ
sĩ hồi đó thường truyền nhau rằng: “Trí làm ra tiền cho Tứ (nhà văn Đoàn Phú Tứ - bạn thân của ông) tiêu".
Sau 1954 thì mọi việc tài chính đều do bà Trí quán xuyến, ông chỉ
chuyên tâm vẽ. Sau một thời gian ngắn sống khổ sở ở gần Lò heo Gò Vấp,
ông bà Trí thuê rồi mua lại hai căn liền nhà ngói cũ một tầng (trệt)
trong ngõ đường Ngô Đình Khôi (sau đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm đổi
tên là đường Cách Mạng, sau 1975 đổi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa rồi Nguyễn
Văn Trỗi), một bên ở một bên làm xưởng. Nhà ở cũng như xưởng của ông
rất tuềnh toàng, mấy chục năm hầu như không sửa chữa gì. Căn xưởng nát,
mái trổ vài viên lắp kính để thêm ánh sáng trời, và cũng như ở xưởng
Thịnh Hào xưa, có một chiếc thang đôi để ông trèo lên khi cần nhìn toàn
cảnh những tranh lớn. Tường sau căn xưởng bị nứt toác, HS Nguyễn Xuân
Việt nói lần nào đi qua anh cũng rùng mình vì trông y như cái máy chém
rớt xuống lúc nào không biết. Ông gắn bó với ngôi nhà giản dị của mình
đến mức sau khi tranh "Vườn xuân Trung Nam Bắc"
bán được, trong lúc ông đi bệnh viện thì con ông xây lại nhà mới, khi
đón ông về, đến trước cửa nhà ông không chịu vào và kêu lên: “Đây không phải nhà tôi". Khi biết rõ là nhà mình được xây lại, ông “bắt đền" và bảo: “Thế này thì bạn bè làm sao biết là nhà tôi mà đến chơi!"


Chuyện ăn mặc thì ông chẳng quan tâm gì tới. Bà Trí cho
biết ông ăn uống rất đơn giản, đúng khẩu vị thanh tao dân Hà Nội xưa,
chỉ cần đồ ăn nóng sốt. Ông bảo bà: “Nếu thiếu lắm thì ăn nước mắm chưng cũng được".
Ông không biết nhậu nhẹt, hàng tháng bà cứ “nhập" đều đều cho ông 30
chai bia, 1 chai rượu Martell, 10 chai soda để ông uống trong lúc làm
việc, còn cà phê thì mỗi ngày đến 4-5 phin. Theo một số hoạ sĩ gần gụi
ông cuối đời, ông chẳng để ý là mình đi hai chiếc vớ hai màu khác nhau,
cũng như bộ com-lê diện của mình là “mặc thừa" của ông anh là GS Tường.


Thật khó ngờ con người đam mê nghệ thuật và lặng lẽ ấy
lại là một nhà cách mạng chống Pháp thực sự đã chịu tù đầy tra tấn vì
nghĩa lớn của dân tộc. Sau 1954, có thể ông đã nguội lửa đấu tranh
trước những diễn biến phức tạp của lịch sử, nhưng lòng khảng khái trước
quyền lực của ông thì còn nguyên. Có nhiều chuyện kể về những lần ông
từ chối vẽ tranh cho ông Ngô Đình Diệm cũng như Đại sứ Mỹ Bunker khi họ
đòi ông vẽ theo ý họ. Ông cũng từ chối yêu cầu của bà Cố vấn Trần Lệ
Xuân đòi dành riêng một buổi cho gia đình bà đến xem trong dịp ông
triển lãm tại nhà năm 1959. Và người Sài Gòn thì không quên bức biếm
hoạ 6 con chuột khoét ruỗng quả dưa hấu trên báo Tự do xuân năm Canh
Tý, khiến ông phải “đi trốn" một thời gian. Cũng từ thời gian này, ông
ngày càng ham mê nghiên cứu Phật giáo và triết học Trung Hoa cổ. Đôi lá
thư ông viết cho các bạn văn nghệ trước 75 hay những lời ông dạy đệ tử
Nguyễn Xuân Việt sau 75 cho thấy rõ ông ngày càng tâm niệm nghệ thuật
gắn làm một với “Tâm", với “Đạo". Những suy nghĩ về nghệ thuật của
người mang pháp danh Thiện Chân ngày càng thấm nhuần triết lý thiền: “Phải
luôn luôn nhớ: tranh mình chỉ là phương tiện để tu tập mà thôi", “Hội
hoạ gần với tôn giáo vì nó xuất phát từ tâm người ta"
... Hai mươi
ngày trước khi ông qua đời, Nguyễn Xuân Việt đến thăm, ông không nói
được nữa, chỉ ra dấu: khép lại hai mắt, khép lại hai tai, khép lại đôi
môi, rồi ngón tay ông chỉ vào giữa trán. Đó chính là vị trí “con mắt
thứ ba", “con mắt huệ", ngõ vào duy nhất để tiếp nhận chân lý sự sống
cũng như chân lý nghệ thuật.


Một đời tìm tòi sáng tạo để đưa sơn mài Việt Nam lên
được địa vị một chất liệu hội hoạ hiện đại, với những kiệt tác hoà
quyện cái cổ truyền và cái thời đại, với nhân cách và bản lĩnh sống
thật cao thượng đến tận giờ phút cuối cùng, Nguyễn Gia Trí xứng đáng là
bậc “đạo sư" của tất cả những ai coi nghệ thuật là thiêng liêng, của
những ai thành tâm muốn tìm một lối đi cho văn hoá Việt giữa thời giao
lưu toàn cầu này.


Hoàng Hưng SG 5/4/1998




[1]
Câu này cũng như tất cả các câu nói về nghệ thuật của HS Nguyễn Gia Trí
trích trong bài này đều rút từ cuốn Hoạ sĩ Nguyễn Gia Trí nói về sáng
tạo của Nguyễn Xuân Việt, NXB Văn học 1998.
[2]
HS Hoàng Tích Chù sinh năm 1910, học CĐMT Đông Dương sau Nguyễn Gia Trí
hai khoá, sau này là một trong các hoạ sĩ sơn mài hàng đầu Việt Nam.


[3] V.Tardieu, người sáng lập trường CĐMT Đông Dương, sinh 1870 ở Lyon, mất 1937 tại Hà Nội.


[4]
Joseph Inguimberty (1896-1971) là người đã khuyến khích các sinh viên
CĐMT Đông Dương nghiên cứu sơn mài, ông yêu mến và gíúp đỡ Nguyễn Gia
Trí nhiều, sau trở thành bạn vong niên, thường liên lạc thư từ với hoạ
sĩ sau 1954.


[5] Ý trong bài "Nguyen Gia Tri, artiste laqueur" của CL.M. trên tạp chí Indochine số 217 (26/10/1944)


[6] "Nguyen Gia Tri, artiste laqueur", bài đã dẫn


[7]
HS Tô Ngọc Vân (1906-1954) học khoá hai CĐMT Đông Dương. Hai câu trên
trích trong những bài viết của Tô Tử - bút danh của Tô Ngọc Vân - ở báo
Ngày Nay số 146 năm 1939 và Tô Ngọc Vân trên báo Thanh Nghị số 77 năm
1944).


[8]
Bà Trí nhũ danh Nguyễn Thị Kim là em họ vợ họa sĩ Lemur Cát Tường,
người sáng tạo chiếc áo dài Việt Nam hiện đại. Bà kết hôn với HS Nguyễn
Gia Trí năm 1955 tại Sài Gòn. Hai ông bà không có con, nuôi một con
trai tên là Tuệ. Bà là người vợ hiền Việt Nam mẫu mực, cả đời chăm lo
cho sự nghiệp của chồng.


[9] Xem chú thích 7


[10] Ý của Linh mục Trần Thái Hiệp (Báo Công giáo và Dân tộc năm 1991)


[11] "Nguyen Gia Tri, artiste laqueur", bài đã dẫn


[12]
Nhiều điểm phân tích kỹ thuật hội hoạ của Nguyễn Gia Trí trong đoạn
viết này cũng như các đoạn sau trong bài, tác giả tiếp nhận từ các hoạ
sĩ Bùi Quang Ngọc, Nguyễn Thanh Liêm, Nguyễn Xuân Việt.


[13]
Tên tranh mà HS Nguyễn Gia Trí viết trực tiếp trong tranh là “Vũ
phiến". Sở dĩ có tên này là do sau 1975, đất nước vừa thống nhất, để
tránh có người hiểu lầm là mình xu thời nên hoạ sĩ tạm thời không dùng
tên “Vườn xuân Trung Nam Bắc”.


[14] "Nguyen Gia Tri, artiste laqueur", bài đã dẫn
 
 
Đã hai lần giới hội họa Việt Nam đưa ra các thứ bậc để vinh danh người tài: Trí (Nguyễn Gia Trí) – Vân (Tô Ngọc Vân) – Lân (Nguyễn Tường Lân) – Cẩn (Trần Văn Cẩn) bên cạnh Sáng (Nguyễn Sáng) – Nghiêm (Nguyễn Tư Nghiêm) – Liên (Dương Bích Liên) – Phái (Bùi Xuân Phái). Tuy chỉ là truyền miệng nhưng mặc nhiên đã trở thành sự đánh giá mang tầm vĩ mô về vai trò cá nhân cũng như sự đóng góp lớn lao của các nhà danh họa đối với nền nghệ thuật tạo hình nước nhà. Các danh họa, mỗi người một số phận, một tâm thế và cách thế dấn thân riêng, nhưng tựu trung lại, họ đều là những con người xuất chúng về tài năng và nhân cách nghệ sĩ của mình.
Danh họa Nguyễn Gia Trí đứng vào hàng ngũ những họa sĩ tiên phong có cao vọng cách tân nền hội họa Việt Nam. Ông là người đi đầu, sục sôi sáng tạo, và có công rất lớn trong việc tìm tòi, nghiên cứu, thể nghiệm ở chất liệu mới sơn mài – một chất liệu mà trước đây chỉ sử dụng trong mỹ nghệ và đồ thờ cúng – thành một chất liệu quí, sang trọng, lộng lẫy, rực rỡ, sâu thẳm trong nghệ thuật tạo hình. Nguyễn Gia Trí đã giải phóng sơn ta thoát khỏi cái tĩnh trang trí ngàn năm để đến với cái động tự do, phóng khoáng, mở rộng các khả năng biểu đạt những rung cảm tinh tế nhất của người nghệ sĩ. Và, cũng cần lưu ý thêm rằng, lúc bấy giờ thế giới vẫn chưa có công nghệ sơn mài này.
 
Nghệ thuật tranh sơn mài manh nha từ đầu những thập niên 1930, khi cụ Nam Sơn – người đồng sáng lập Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương – hướng sự say mê nghệ thuật của hai ông thầy người Pháp Victor Tardieu và Joseph Inguimberty vào việc tìm hiểu vẻ đẹp của đồ sơn Việt Nam tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám, Hà Nội để rồi chính họa sư Victor Tardieu quyết định mở xưởng nghiên cứu sơn ta do họa sư Joseph Inguimberty phụ trách và mời nghệ nhân Đinh Văn Thành về dạy nghề sơn. Qua bước đầu mày mò, tìm kiếm, các sinh viên những thế hệ đầu của trường đã sáng tạo nên những bức sơn mài lộng lẫy, thơ mộng. Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, chất liệu sơn mài vẫn chưa hoàn toàn được làm chủ; đặc biệt là kỹ thuật sử dụng vỏ trứng, trên thực tế, cũng chỉ dừng lại ở mức độ diễn tả dạng mảng phẳng. Phải đến với Nguyễn Gia Trí, nghệ thuật tranh sơn mài mới đạt tới tầm cao mới. Ở đây, vỏ trứng không đơn thuần chỉ là dạng mảng phẳng mà thậm chí còn có thể diễn tả mảng tối, tạo sự liên tưởng đa chiều về chất. Có thể là da thịt mịn màng của nhân vật, cũng có thể là cát đá thô ráp của phong cảnh… Từ nền tảng tiếp thu, sử dụng và kế thừa bốn màu sắc chính: đen (then), đỏ (son), vàng (quì), bạc của truyền thống, Nguyễn Gia Trí đã thể nghiệm bằng nhiều phương cách nhằm mục đích làm giàu cho bảng màu của chất liệu sơn truyền thống như trộn dầu thông với sơn cánh dán và son, dây, rắc vàng, bạc, cát… bằng độ thưa mau để tạo nên sắc độ khác nhau, nung đốt vỏ trứng rồi cẩn vào nền tranh một cách tinh tế tạo nên một vẻ đẹp lãng mạn, bay bướm cho hình khối. Kết quả là bảng màu của sơn mài đã phong phú thêm lên, nâng cao hiệu quả diễn đạt nghệ thuật.
Nguyễn Gia Trí đã làm kinh ngạc công chúng Hà thành với những bức: Bên đầm sen (1938); Vườn xuân và thiếu nữ (1939); Chùa Thày (1939-1940); Bình phong khoai nước và cảnh (1940); Hai thiếu nữ (1944); Chiều hôm những ánh vàng (1944); Thiếu nữ bên hồ Hoàn Kiếm (1944)… Trước mắt mọi người là những cảnh trí và thiếu nữ thướt tha trong vẻ đẹp liêu trai của sắc vàng rực rỡ quyến rũ, của sắc trắng trinh bạch chứng nghiệm cho những công đoạn làm tranh đầy cảm hứng, gợi khơi người xem trở về với vẻ đẹp duyên xưa. Sau khi xem tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí, họa sĩ Tô Ngọc Vân khẳng định: “Đến cuộc thí nghiệm Nguyễn Gia Trí, lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở óc, ở tâm hồn người ấy ra, nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng. Nghệ thuật của Nguyễn Gia Trí là ý tưởng, tình cảm của Nguyễn Gia Trí đúc lại, một nét, một vết, một màu đều phải ở tay nghệ sĩ mà ra”. Thành công của Nguyễn Gia Trí là sự kết hợp những tìm kiếm ban đầu của họa sĩ Trần Quang Trân từ năm 1933-1934 đến Lê Phổ, Trần Văn Cẩn, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Phạm Hậu, Lê Quốc Lộc… những năm 1936-1939. Thế giới sơn mài Nguyễn Gia Trí vừa thực vừa ảo trong đó gợi niềm khát khao về cái đẹp vĩnh hằng. Tranh sơn mài của ông đạt tới đỉnh cao của những năm 1939-1944. Bên cạnh chất liệu sơn mài là tiêu biểu, Nguyễn Gia Trí cũng thể nghiệm, tìm tòi qua các chất liệu hội họa quen thuộc như sơn dầu với các bức Bến Hồng Quảng, Sông Đà, phụ bản Kiều
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí là người cách tân xuất sắc, có công rất lớn phát triển sơn mài từ mỹ nghệ trở thành tranh mỹ thuật và đã đưa sơn mài lên vị trí đỉnh cao. Hạn chế của Nguyễn Gia Trí là ở chỗ không có mảng màu đập vào cảm giác nâng tầm tranh lên. Chi tiết nhỏ nhiều hóa rối, ít sáng tạo nên khô…
Sử dụng chất liệu thuần Việt để bộc lộ tình cảm của dân tộc bằng ngôn ngữ hội họa hiện đại là giá trị nghệ thuật của hội họa Nguyễn Gia Trí. Ngoài ra ông còn vẽ minh họa, biếm họa cho các báo Phong hóa, Ngày nay… lĩnh vực nào ông cũng tìm tòi, cũng để lại những dấu ấn sáng tạo khó quên.
Quá nửa thế kỷ làm nghệ thuật, Nguyễn Gia Trí đã để lại trong lòng người ngưỡng mộ một chân dung nghệ sĩ tài năng đáng khâm phục. Sự đóng góp của ông cho nền nghệ thuật nước nhà là những đóng góp có ý nghĩa nền móng và hết sức sang trọng. Ngôn ngữ nghệ thuật sơn mài Nguyễn Gia Trí có sức truyền cảm mạnh. Màu đằm thắm, sắc nhị âm vang, rung tới tận đáy lòng người xem bởi truyền thống xưa cũ mà trí tuệ, nồng nàn mà sâu lắng, ký ức mà hiện hữu, mai sau.

bài đã đăng của Trịnh Chu

HỌA SỸ NGUYỄN GIA TRÍ
(Đăng ngày 20/04/2009)
Đã hơn 90 năm từ ngày cậu Trí ra đời trong một làng quê vùng đá ong Bắc Bộ (làng An Tràng, huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông). Giấy CMND của ông sau này ghi ông sinh ngày 6 tháng 10 năm 1912, nhưng ông Trí cùng mọi người thân đều khẳng định ông sinh năm 1908 (Kỷ Dậu). Không có tài liệu nói rõ về gia thế ông. Sinh thời ông Trí chỉ kể sơ với vợ con: cụ tổ Nguyễn Gia Phúc là người chuyên thêu y phục triều đình, đến đời ông thân sinh là Nguyễn Gia Cư còn làm công việc ấy. Chỉ riêng một việc ba anh em ruột: Nguyễn Gia Tường là giáo sư nổi tiếng của Collège Bưởi, Nguyễn Gia Trí học Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương ngành hội hoạ (theo hoạ sĩ Hoàng Tích Chù thì ông Trí học Collège Bưởi rồi thi ngay vào CĐMT, bà Trí lại cho biết chồng mình có kể rằng ông đã theo học trường Y một thời gian rồi mới bỏ đi học vẽ), Nguyễn Gia Đức học CĐMT ngành Kiến trúc (và sau này trở thành một kiến trúc sư hàng đầu), cũng khiến ta hình dung được môi trường văn hoá gia đình rất thuận lợi cho một người đi vào con đường nghệ thuật.
Tài năng của Trí nhanh chóng nổi bật trong trường cùng với tính khí có phần ương bướng của ông. Vào trường năm 1928 nhưng ông bỏ học ở năm thứ hai. Theo HS Hoàng Tích Chù thì hiệu trưởng Victor Tardieu  phục tài người sinh viên này nhưng không ưa anh, những lần có khách vào thăm trường, ông ta thường cố ý đứng che tranh của anh. Vậy mà mấy năm sau, chính ông lại là người chủ động gọi anh về học lại. Ông Trí kể: “Học đến năm thứ hai tôi không chịu được nhà trường nên bỏ. Sau vì có khoa sơn mài nên học lại. Giờ académique (vẽ hàn lâm) buổi sáng là một cực hình. Chỉ mong đến chiều để làm sơn mài.” Vậy là Nguyễn Gia Trí lại trở thành sinh viên khoá 7 Trường CĐMT Đông Dương (1931-1938). Và chính trong thời gian này, cùng với một số bạn đồng học, ông đã mở ra con đường đưa “sơn ta” của mỹ nghệ truyền thống trở thành “sơn mài” - chất liệu hội hoạ đặc sắc của Việt Nam.
Có nhiều giai thoại về tài năng của Nguyễn Gia Trí nắm bắt rất nhanh thực tại và thể hiện cái thần của nó trong vài nét bút. HS Hoàng Tích Chù hay kể về chuyến đi ký họa Chợ Bờ. Cả lớp đi từ sáng sớm, riêng Trí thì quá trưa mới tới, ngồi sau xe đạp một người bạn. Anh đảo một vòng rồi đi về. Ông thầy Inguimberty  - người rất yêu quí Trí và Trí thường gọi là "Cụ I" - hỏi bài vẽ đâu, Trí rút trong túi áo ra một mảnh giấy: chỉ vài nét, cảnh Chợ Bờ hiện lên sinh động hơn tất cả các bức vẽ tỉ mỉ của những người khác. Sau này, người ta đón đợi hàng ngày những minh hoạ, hí họa kỳ tài của Nguyễn Gia Trí trên các báo Ngày nay, Phong hoá như "Ai mua rươi ra mua", hay chân dung Thống sứ Châtel... Những phác hoạ lá sen tàn sống động đến từng gân lá gãy, những dáng thiếu nữ "tân thời" uyển chuyển đầy gợi cảm... Tất cả đều ở trình độ bậc thầy về tả thực. Điều quí nhất là những hình họa tuyệt vời của Nguyễn Gia Trí sẽ trở thành "than cho Trí dùng quanh năm" như Inguimberty nói đùa, tức là những tài liệu để ông bố cục các tác phẩm sơn mài. Trong những tác phẩm này, mặc dù được thể hiện cách điệu, những lá tre, cành tùng, bông sen, đôi bướm vờn, những dáng người đi, đứng, nằm... không những rất thực mà còn rất sống động trong vẻ tự nhiên tươi mưởi của những ký hoạ trực tiếp. Chính đó là yếu tố đầu tiên khiến cho sơn mài Nguyễn Gia Trí có tư cách hội hoạ nghệ thuật, thoát khỏi thân phận trang trí với các hình hoạ nhạt nhẽo vô hồn.
Song những sáng tạo của ông về chất liệu mới thực sự làm nên cuộc cách mạng sơn mài.
“Tranh không có đề tài. Đề tài chính là chất liệu sơn mài." Câu ấy ông Trí nói sau nửa thế kỷ sống với sơn mài. “Cái lý riêng" của sơn mài ông đã “ngộ" ngay từ buổi sơ duyên. Ông kể: “Khi đi học tôi làm phác thảo sơn mài một tuần không được. Ông thầy hỏi: Cảnh Hòn Gai đấy hả? Vì thấy trời đen đất đen. Lúc ấy tôi cũng tự hỏi: Sao ngói đỏ tường trắng mà trời đen đất đen? Và tôi chợt hiểu ra: Sơn mài có cái lý riêng của nó. Sơn mài khác hẳn sơn dầu".
Thực tình, ông Trí còn phải trải qua những chiêm nghiệm trong lao động nghệ thuật mới thấm thía đến máu thịt cái chân lý ấy. Nên biết rằng tuy ông không vẽ nhiều sơn dầu, nhưng những tác phẩm chất liệu ấy của ông được đồng nghiệp đánh giá rất cao, và những kỹ năng sớm đạt tới đỉnh về bố cục, tạo không gian ba chiều... trong khi nghiên cứu sơn dầu đã đóng góp không nhỏ vào thành công của ông ở sơn mài.
Một tác giả người Pháp chuyên viết về mỹ thuật Việt Nam đương thời đã nhận xét: Nguyễn Gia Trí có một giai đoạn ngắn dường như cố gắng làm cho sắc độ của con người, cây cối, thú vật, quần áo trong tranh ông đạt được sự chân thực hoàn hảo. Nhưng ông đã nhanh chóng từ bỏ nỗ lực ấy để chỉ chú tâm vào các phương tiện của sơn mài. Và tác giả khẳng định, ý tưởng chủ chốt của Nguyễn Gia Trí: nâng sơn mài lên trình độ của sơn dầu không có nghĩa là vẽ tranh sơn dầu bằng chất liệu sơn mài.
Sơn mài khác hẳn sơn dầu ở chỗ mặt tranh phẳng gần như tuyệt đối. “Con ruồi đậu trên vóc cũng làm vóc lún xuống" (Nguyễn Gia Trí). Không gian của nó lặn vào bên trong rất sâu, đó là “tính âm" của nó, cũng như các màu cơ bản vàng - son - đen (then) theo ông Trí là các màu “ngả về âm” - màu của không gian đình chùa cung điện xưa, và nhịp của nó là nhịp chậm - sơn mài hình thành từ từ qua từng công đọan vẽ, sơn, ủ, mài... Và chính những đặc điểm ấy tạo ra thách đố rất gay gắt đối với những ai đã học kỹ thuật sơn dầu, là thứ chất liệu đòi hỏi sự truyền cảm trực tiếp, bộc phát vào những “touche, tache” (nét, mảng) gồ ghề đầy “tính dương”.

Không riêng một mình Nguyễn Gia Trí đã phát triển bảng màu của sơn mài để nó đủ sức diễn tả thực tại phong phú trước mắt người hoạ sĩ, ông cũng không phải người duy nhất có ý thức dùng sắc độ để tạo nông sâu trên mặt phẳng sơn mài, nhưng ông là người đã đẩy những tìm tòi ấy đến mức tuyệt kỹ để trực truyền mọi cảm xúc, rung động mãnh liệt hay tinh tế đến mức “người với tranh là một không còn phân biệt" và mở ra thế giới rộng lớn qua “cánh cửa rất hẹp”, hẹp đến khe khắt của sơn mài.
Những lời bình luận sau đây của HS Tô Ngọc Vân giúp ta hình dung sức truyền cảm ma quái của “sơn ta” dưới bàn tay phù thủy Nguyễn Gia Trí: “Trên những màu hồng nhợt biến hoá, những sắc nâu ngon thiệt là ngon, những vỏ trứng như đổi cả thể chất thành quí vật, vài nét bạc, vài nét vàng sáng rọi, rung lên, rít lên như tiếng kêu sung sướng của xác thịt khi vào cực lạc. Chàng nghệ sĩ ấy yêu tấm sơn như ta có thể yêu một người đàn bà. Lúc âu yếm bằng những nét vuốt ve mềm mại, lúc dữ dội bằng năm bảy nét quệt mạnh đập tung, cào cấu"... “Trong những hình sắc ấy như ẩn hiện một chút gì huyền ảo, đắm say, nồng nàn còn run rẩy trong bóng tối hoà với máu, một sức sống còn bế tắc, một linh hồn kiên quyết, đam mê, đang quằn quại vì muốn thoát nhanh ra ngoài ánh sáng."
Trong các tuyệt kỹ của Nguyễn Gia Trí, nhiều hoạ sĩ sơn mài bái phục tài “luyện vỏ trứng”. Dưới tay ông, vỏ trứng từ một vật cứng trở thành mềm mại và tạo ra đủ sắc thái của màu và ánh sáng trắng. Lúc như một thứ men rạn cổ kính, lúc loé lên trên nền đen như được soi bằng những ánh đuốc đêm hoa đăng, lúc đông đặc như cẩm thạch, lúc kết tinh như kim cương, lúc mỏng mờ như trận mưa các giọt sữa, lúc rờn rợn bóng tối hư ảo trên tường rêu đêm Bồ Tùng Linh... Cho đến nay chưa ai học được bí quyết “mài bạt" vỏ trứng của ông. Đó cũng là một lý do người ta khẳng định không ai có thể làm giả một tác phẩm sơn mài Nguyễn Gia Trí.
Về cuối đời, ông có đôi lần bộc lộ với người đệ tử gần như duy nhất của mình phương châm xử lý vỏ trứng: “Mài đứt, phá hết các tướng cũ của vỏ trứng rồi nối lại. Luôn luôn phá hết các tướng hiện ra, phá tướng, không phải thêm tướng. Bớt nữa, bớt mãi, đứt nữa, đứt mãi để cho vỏ trứng có triển vọng đẹp còn lại."
Phương châm là thế, nhưng thực hiện thế nào đó là điều không thể dạy. Mài đến đâu thì ngừng, đến đâu thì đạt hiệu quả tối ưu, tất cả phụ thuộc cảm nhận tức thời của họa sĩ. Năng lực cảm nhận ấy là quyết định, vì Nguyễn Gia Trí tin rằng “chất liệu sơn mài có nhiều ngẫu nhiên", nó “hiện lên như thiên thành".
Niềm tin nói trên có nguồn gốc sâu xa ở quan niệm tâm linh của ông về sáng tạo nghệ thuật: “Tìm tòi và sáng tạo với tất cả linh tính. Không phải sáng tạo bằng mắt, bằng tay, mà gần như người mù sờ soạng, mò mẫm trong đêm tối để tìm cái đẹp. Như người mẹ mang thai không thể bắt con mình là gái hay trai, đẹp hay xấu, mà cầu mong ở con người mình, ở chính phúc đức và chính thể chất của mình sẽ sinh ra đứa con lành lặn đẹp đẽ.”
Vì nguyên lý ấy, trong qui trình thực hiện một tấm sơn mài, ông Trí chỉ dùng thợ để lên kín các hình phác thảo của mình và mài phẳng, qua ba đợt, để rồi chính tay ông mài phá, xoá và sửa cả ba lần rồi mới làm lại lần cuối. Bà Trí kể: Có lần đêm rất khuya thấy ông ngồi trong bóng tối mài tranh, bà hỏi thấy gì mà mài, ông trả lời: “Tôi đâu có vẽ bằng mắt."

Sơn mài 1944 hầu như không bao giờ Nguyễn Gia Trí thoả mãn với bức tranh. Tác phẩm nào ông cũng coi như một thử nghiệm, một "bài tập" để khám phá sơn mài. Đổ bao nhiêu vàng bạc vào tranh, ông không đắn đo, nhưng ông cũng không do dự phá bỏ hết để làm lại. Không chỉ một lần bà Trí phải đem giấu tranh đi để giao cho khách, nếu không ông vẫn đòi sửa tiếp. Có khi tranh bà đã giao đi một tuần rồi ông còn hỏi tranh đâu? Ông Trí nói: “Phải đi qua cái hỏng thì mới đến cái được. Ở chỗ mấp mé." Chỗ mấp mé là chỗ của nghệ thuật, giữa vụng và khéo, giữa đủ và thiếu, giữa xong và chưa xong. Đó cũng là chỗ của người thấm nhuần đạo âm dương, lẽ biến dịch của phương Đông.
Cái mốc đầu tiên đánh dấu việc sơn mài Việt Nam chính thức gia nhập nền hội hoạ là cuộc triển lãm năm 1938 do Trường CĐMT Đông Dương tổ chức. Đứng trước các tác phẩm của Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân đã tự hào khẳng định: "Lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. Ở đó, ở tâm hồn người ấy ra, nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng."
Những năm sau đó là thời kỳ tìm tòi sáng tạo đầy sung mãn của Nguyễn Gia Trí để hoàn thiện kỹ thuật và phong cách riêng của mình. Ông lập xưởng vẽ riêng ở làng Thịnh Hào, Ngã Tư Sở (Một điều thú vị là những thợ mài của Nguyễn Gia Trí lúc ấy sau này đều nổi tiếng trong các ngành nghệ thuật: Kim Lân nhà văn, Nguyễn Trọng Hợp họa sĩ, Nguyễn Đăng Bảy nhà quay phim).
Những năm 1940 Nguyễn Gia Trí là hoạ sĩ thành công nhất ở Việt Nam. Tác phẩm của ông được tính giá theo tấc và hầu như chỉ dân Tây thượng lưu có khả năng mua. Họ đặt tranh ngay từ khi mới trông thấy phác thảo. Hai vợ chồng Công sứ Cresson xắn quần nhấc váy lội nước vào làng Thịnh Hào để lấy tranh. Họ gọi ông là “Génie Asiatique” (Thiên tài châu Á). Họ bảo lãnh ông ra khỏi nhà tù khi ông bị bắt vì hoạt động chống Tây (Theo HS Hoàng Tích Chù thì ông Trí bị bắt quả tang chứa vũ khí trong xưởng vẽ, những vũ khí chính ông mua bằng tiền bán tranh cho Tây. Theo nhà báo Trần Phong Giao thì ông bị Tây bắt tới ba lần, lần cuối bị đưa vào Nam an trí ở Thủ Dầu Một. Song lúc này ta hãy tạm chưa nói đến Nguyễn Gia Trí nhà chính trị để tập trung nói về Nguyễn Gia Trí con người yêu nước trong nghệ thuật).
Những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Gia Trí từ 1938 đến trước 1945 thường được nhắc đến là: "Chợ Bờ", "Bên Hồ Gươm", "Chùa Thầy", "Đèn Trung thu", "Đêm Bồ Tùng Linh"," Khoả thân", "Cảnh Thiên Thai" (đây là tấm tranh khổ lớn được Toàn quyền Đông Dương Decoux đặt làm sau khi ông Trí ra khỏi trại giam Vụ Bản năm 1943, một số tài liệu nói là hiện vẫn còn trong Phủ Chủ tịch ở Hà Nội, song nhiều người theo dõi sát về mỹ thuật cho biết là sau 1954, khi ta tiếp quản thủ đô tranh ấy đã biến mất rồi), "Thiếu nữ bên hoa phù dung" (Sau 1954 tranh này thuộc tài sản của nhà sưu tập Đức Minh, một thời gian dài được Phủ Chủ tịch mượn để treo trong phòng khách của Hồ Chủ tịch, hiện nằm trong sưu tập của ông Bùi Quốc Chí, con trai ông Đức Minh đã quá cố, ở TPHCM), "Thiếu nữ trong vườn" (tác phẩm cỡ lớn nhất trong cả đời sáng tác của Nguyễn Gia Trí, gồm 6 tấm, tổng cộng 12 m2, bán cho ông bà Drouin, Giám đốc Sở Điện Nước miền Bắc Đông Dương), "Thiếu nữ bên hồ sen", "Giáng sinh"...

Đề tài và tinh thần chủ đạo của các tác phẩm Nguyễn Gia Trí trong giai đoạn này, theo nhận xét của tạp chí Indochine:  “Chúng dìu ta trên cánh mộng qua những truyền thuyết Việt Nam hay vào một không gian đẫm nhục cảm... Hoa, thiếu nữ và thơ, nhạc, ẩn chứa trong một chất liệu lơi lỏng một cách cố ý". Tác giả người Pháp còn cho rằng “những người đàn bà này (nhân vật của Nguyễn Gia Trí) gợi lên vẻ thanh lịch của một Watteau (hoạ sĩ Pháp 1684-1721), sự nhẹ nhõm của một bức phác hoạ thế kỷ 18 của Pháp, những sức xuân thần kỳ của một Botticelli (hoạ sĩ Ý 1445-1510)".
"Thiếu nữ bên hồ sen" là tác phẩm khổ 1,2x2,4 m, được làm vào khoảng năm 1940. Lúc ấy Nhật mới vào Việt Nam, một thời gian khó khăn về nguyên liệu, không có gỗ mít để làm vóc nên tấm tranh này chóng bị nứt. Nó đã vào Sài Gòn từ trước 1945, thuộc tài sản của ông Vũ Văn Hải (sau trở thành Đổng lý Văn phòng của ông Ngô Đình Diệm), và được đích thân HS Nguyễn Gia Trí sữa chữa vào năm 1963 (ông có ký tên xác nhận việc ấy ngay trên tranh). Sau 1975, vợ chồng hoạ sĩ Bùi Quang Ngọc vét hết tiền mặt và bán chiếc xe Honda PC, tài sản duy nhất có giá trị trong nhà, để mua lại bức tranh này (tức là tổng cộng khoảng vài chỉ vàng). Tiếc rằng mấy chỗ nứt không khắc phục được, song mặt tranh vẫn giữ được màu sắc và nguyên vẹn các hoạ hình thể hiện tài năng đang hồi sung sức của Nguyễn Gia Trí.
Tác phẩm là minh chứng rõ rệt tinh thần cân bằng, hài hoà mà ông Trí vẫn chủ trương: “Nghệ thuật là sự thăng bằng. Tình cảm thăng bằng, bố cục thăng bằng.”
Trên cái nền sương khói tạo bởi “teng” bạc (bạc oxy hoá qua thời gian, một thứ “thiên thành” như đồ cổ lên nước) hiện lên từng lớp cây lá nhiều vẻ - trong đó những chiếc lá sen tàn được thể hiện thần tình, mỏng tang với những gân mảnh tinh tế đến khó tin. Sau cành lá thưa, một tốp người nữ bố cục thành một nửa vòng: ở tiền diện bên trái là một thiếu phụ tay vịn cành, lả mình để tay kia vươn hái một bông sen, phía bên phải tranh, hơi lui vào là một thiếu phụ ngồi chống một chân, tay cầm quạt, cả hai đều có vẻ mặt và tư thế thanh lịch và thư thái, đàng sau người cầm quạt là hai chị em gái nhỏ tuổi chạy chơi. Tốp này làm thành một vòng tĩnh và nửa động phía ngoài để rồi trung tâm bức tranh cuốn người xem vào ba cô thiếu nữ uyển chuyển ở ba vị trí tạo ra cảm giác xoay vòng ngây ngất: cô thứ nhất ngoảnh 2 phần 3 ra phía trước, cô thứ hai quay nghiêng nửa người và cô thứ ba gần như hoàn thành vòng xoay với gần hết phía sau quay ra ngoài, phần mông nảy tròn và đuôi tóc dài hất lên. Ba cô gái được tôn hẳn lên trên nền đen sâu thẳm của không gian trống - trời và nước.
Những yếu tố căn bản của sơn mài Nguyễn Gia Trí đã thấy rõ trong tác phẩm này: Sự tôn vinh vẻ đẹp hài hoà tinh thần với nhục thể của các thiếu nữ "tân thời" áo dài thon thả phơi phới giữa thiên nhiên dào dạt - đặc biệt vòng “rondo ba cô gái" sẽ trở thành mô-típ tiêu biểu của các bố cục “phụ nữ trong vườn” theo đuổi ông cho đến hết cuộc đời. Một chi tiết nên biết: nguyên mẫu thiếu phụ cầm quạt trong tranh là “Cô Sáu” cũng chính là người mẫu cho HS Tô Ngọc Vân vẽ bức "Thiếu nữ bên hoa Lys". (Không biết cô có quan hệ gì hơn nữa với HS Nguyễn Gia Trí hay không, nhưng HS Hoàng Tích Chù lúc vui chuyện có kể rằng bà mẹ của ông Trí rất nghiêm, một hôm bà bất thần đến xưởng vẽ của con trai, ông Trí cuống quýt giấu cô mẫu của mình vào phòng tắm). Bố cục không gian “hình cầu" chứ không phải không gian dẹp quen thuộc của sơn mài “trước Trí". Kỹ thuật dùng sắc độ, tương quan để diễn tả ánh sáng lung linh trên áo và chất vải, lụa, nhung, diễn tả không khí, không gian nhiều tầng ở đây đã rất điêu luyện. Riêng vỏ trứng thì bức này đang trong bước thử nghiệm, nhưng đã khá mềm mại để tạo màu trắng của mặt, tay người và hoa văn trên áo.
Một tác phẩm độc đáo của ông có đề tài Kitô giáo là bức "Giáng sinh" thực hiện năm 1941 do một “bà đầm" đặt để tặng dòng tu Đa Minh. Bức tranh ba tấm có kích thước tổng cộng 1,3x2,37 m. Điểm độc đáo nhất của tranh này là Nguyễn Gia Trí đã Việt hoá hoàn toàn quang cảnh và các nhân vật trong Kinh Thánh. Ba vị thiên thần đứng trên mây là ba cô “tân thời" duyên dáng trong tà áo dài màu lam, lục và trắng - một trong ba cô gảy đàn tì bà! Ông Giuse và Đức Mẹ là hai ông bà nhà quê áo sồi quần gụ. Ba người trong bóng tối góc bên phải đầy tính biểu hiện: ba trạng thái tinh thần của chúng sinh - người thành kính hướng về Chúa Hài đồng là kẻ đã có niềm tin, người thản nhiên nhìn ra ngoài là kẻ bàng quan, người nằm nghiêng gối đầu trên cánh tay say ngủ là kẻ còn chìm đắm trong u mê. Và thay cho máng cỏ chuồng lừa hang đá, ở đây là cái chuồng trâu với một con trâu trắng!

Về mặt nghệ thuật, đáng chú ý là việc sử dụng vàng để tạo ánh sáng huy hoàng, và việc sử dụng màu xanh lam và lục trong sơn mài (đây có thể là một trong những sơn mài đầu tiên bổ sung gam màu xanh vào bảng màu vàng son đen truyền thống).
Tác phẩm này đã chịu kiếp lưu lạc cùng thời cuộc: Năm 1954, trước khi Hà Nội về tay chính phủ kháng chiến, Tu viện Teresa đã đưa nó qua nhà dòng chính quốc ở Lyon. Các vị tu sĩ ở Couvent Le Corbusier chắc là không hiểu giá trị của tấm tranh nên để nó dưới sàn phòng nguyện, quay mặt sau ra làm... bảng viết. Năm 1955, Linh mục Pineau của dòng Đa Minh được cử sang Sài Gòn, biết việc ấy đã xin đưa tấm tranh trở lại Việt Nam. Đến cuối 1959 đầu 1960 mới đưa được về Sài Gòn, và từ đó nó nằm ở Nhà nguyện Dòng Mai Khôi đường Tú Xương cho đến nay. Năm 1990, theo yêu cầu của nhà tu, HS Nguyễn Gia Trí đã cho đệ tử là Nguyễn Xuân Việt gia cố góc trái tấm tranh bị bong do để ẩm. Linh mục Thiện Cẩm, bề trên dòng Mai Khôi, người cung cấp cho tôi lịch sử tấm tranh này, cho biết: trước đây có một vị Khâm sứ Toà thánh Vatican ngỏ ý muốn mua tác phẩm độc đáo này, ông sẵn sàng chịu giá 1 triệu đồng (tiền Sài Gòn cũ).
Giai đoạn thứ hai của sự nghiệp Nguyễn Gia Trí kéo dài gần 40 năm sau của đời ông gắn bó với Sài Gòn - TPHCM kể từ năm 1954 đến khi ông qua đời (20/6/1993), song chủ yếu 20 năm 1954-1975 là thời kỳ ông có điều kiện thuận lợi nhất để hoàn thiện nghệ thuật sơn mài.
Những tác phẩm quan trọng nhất của Nguyễn Gia Trí sau 1954: Bộ lịch sử Việt Nam gồm các bức "Địa linh hoán tượng", "Hai Bà Trưng", "Trận Bạch Đằng" (cùng với hai tranh khác do ông Ngô Đình Diệm đặt với “tiền riêng” hơn một triệu đồng vào những năm 1957-1958), "Ba Vua" (1960), bộ tranh cho Thư viện Quốc gia gồm ba bức "Hoài niệm xứ Bắc", "Trừu tượng", "Múa dưới trăng" (1968-1969), "Vườn xuân" (1970)... và tác phẩm cuối cùng "Vườn xuân Trung Nam Bắc" thực hiện kéo dài trong nhiều năm.
"Ba Vua" là tấm tranh về đề tài Giáng sinh thứ hai của Nguyễn Gia Trí, thoạt tiên thực hiện theo com-măng của ông Diệm làm quà tặng La Mã, nhưng khó chịu vì những “góp ý" của con người quyền thế kia, hoạ sĩ đã thoái thác không giao tranh nữa và... tặng không cho một người bạn vong niên là một bác sĩ (có tài liệu nói người được cho tranh là một nhà văn trẻ, sau đó bức tranh mới về tay ông bác sĩ). Năm 1975, chủ nhân qua Pháp, mang theo bức tranh, nhưng rồi không hiểu vì lý do gì lại gửi nó về cho gia đình ở trong nước. Năm 1996, gia đình ông bán bức tranh, người mua được là một nhà sưu tập có tiếng ở TP HCM.
Tuy chỉ có khuôn khổ khiêm tốn (70x100 cm), nhưng tác phẩm này là một đỉnh cao toàn diện của tài năng Nguyễn Gia Trí. Một bảng màu cực kỳ phong phú (có người tỉ mẩn đếm được 22 sắc độ) vừa nghiêm trầm với các gam màu rượu chát - củ dền, vừa lộng lẫy với ánh sáng vàng và vỏ trứng, quí giá với màu xanh ngọc, bức tranh có hiệu quả như tấm tranh kính nhà thờ trong ánh hoàng hôn. Tài nghệ dùng sắc độ để diễn tả những nếp mềm mại, những biến đổi ánh sáng trên các tấm áo choàng, đặc biệt là tài xử lý vỏ trứng ở đây đã đến chỗ cực kỳ tinh tế. Cùng một mảng lớn, nhưng vỏ trứng được mài nông sâu uyển chuyển, có khi như trong suốt, để lớp màu nền bên dưới ánh lên khác nhau khiến các vật thể lung linh sống động, và nhất là tạo được sự biểu cảm của các gương mặt như trong những tranh Phục hưng.
Khi nhận làm ba tác phẩm để đặt trong Thư viện Quốc gia (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp TP HCM), HS Nguyễn Gia Trí quyết định coi đây là dịp để tổng kết các khả năng của sơn mài cho các thế hệ sau học hỏi về kỹ thuật để tiếp tục phát triển.
Bức "Hoài niệm xứ Bắc" cố tình làm theo phong cách trang trí truyền thống với bốn màu tĩnh tại và chắc chắn: son vàng đen trắng, phối hợp hàng loạt họa tiết vuông thành sắc cạnh thể hiện những sinh hoạt và vật thể văn hoá cổ truyền Việt Nam: ở trung tâm là cảnh hội hè đình chùa, bên trên là cảnh Đền Ngọc Sơn, Ô Quan Chưởng, Văn Miếu, Chùa Một Cột, khung viền xung quanh là các hoạ tiết cầm kỳ thi hoạ, bánh chưng bánh dày, lan tùng cúc thủy tiên, tam đa, trà thuốc lào, hạc rùa ngựa lọng... cùng với mấy câu thơ chữ Nôm “Nước non nặng một lời thề, Nước đi đi mãi không về cùng non" ("Thề non nước của Tản Đà).
Bức "Múa dưới trăng" vẫn tiếp tục đề tài thiếu nữ trong vũ điệu mê li và ánh sáng lung linh, có những mảng họa sĩ giát vàng rất mỏng lên trên vỏ trứng để tạo ánh sáng trăng vừa lộng lẫy vừa thanh cao.

Song đáng lưu ý nhất là bức "Trừu tượng". Thể loại trừu tượng ông đã thực nghiệm từ những năm đầu tiên của sự nghiệp mình. HS Hoàng Tích Chù thường nói về một tấm vóc thử màu của ông Trí, được các đồng nghiệp khen là một “trừu tượng đẹp", ông bèn đặt tên là “Bouillabaisse” (Món xúp thập cẩm) và có người mua liền. Sau 1954, ông cũng vẽ một số tranh trừu tượng và nửa trừu tượng, trong đó có bức vẽ cho ông Diệm để làm quà cưới Thái tử Nhật. Nhiều mảng trong các bức tranh có hình của ông nếu tách riêng ra cũng có thể coi như tranh trừu tượng. Ông từng nói, bản thân sơn mài giàu tính trừu tượng: “Bắt đầu vẽ sơn mài là đã vẽ trừu tượng rồi". Lại nói: “Tranh trừu tượng là gần tâm hơn cả vì nó tự do không bị trói buộc". Nhưng ông cũng chỉ ra cái khó của thể loại này: “Tranh trừu tượng như nhốt một đàn thú chung một chuồng. Các hình, nét, màu sắc, chất... thiên sai vạn biệt, chỉ tâm ‘từ’ mới hoà hợp chúng thành nhất phiến."
Bức trừu tượng ở thư viện là bức lớn nhất (1,2x2,4 m) và tiêu biểu nhất. Người ta nhận thấy trước nhất là sự phong phú của nó: Đây là một tập hợp hài hoà của nhiều bức trừu tượng, thống nhất thành một tác phẩm. Các tầng tranh cũng biến đổi, và lượng màu cơ bản rất ít (đều là màu truyền thống) nhưng biến chuyển nhiều sắc độ, có thể theo dõi sự chuyển ấy ngay trên một đoạn nét rất mảnh cũng như trên toàn bộ màu nền. Ở đây nét bút tung hoành phóng khoáng tự do của Nguyễn Gia Trí khiến ta tưởng chúng chạy một hơi trực tiếp theo cơn tùy hứng của tác giả như một “action painting” (hội hoạ động tác) của Jackson Pollock chứ không thể là sự thực hiện qua nhiều công đoạn nguội của sơn mài. Những nét bút mềm mại thoải mái như nét bút lông, mảnh tinh như thoáng mực nho nhưng lại có độ sâu và sự bền chắc chỉ có được ở sơn mài.
Đề tài “Thiếu nữ trong vườn" được Nguyễn Gia Trí thâm canh ngày càng hoàn thiện. Đến bức "Vườn xuân" năm 1970 (năm ấy là năm Tuất, ông Trí có vẽ lẩn trong đám lá hình một con chó) thì đã như trăng đến rằm. Mọi thành tựu kỹ thuật trước đó đều được phát huy hết mức, đặc biệt là thủ pháp để lộ nền son trong những hình người khiến các nhân vật nhẹ lâng lâng như tan được. Việc xử lý vỏ trứng ở đây có những sáng tạo mới: vỏ trứng nhoè mờ, ẩn hiện như thủy mặc, mềm như lụa, ánh vàng kim chiếu ra từ bên trong, từ những kẽ vỏ trứng như một ánh sáng nội tại huy hoàng, và các nét tinh tế màu đen chạy trên mặt vỏ trứng khiến ta nhìn thấy được những đường gió cuốn tà áo dài thiếu nữ. Vẫn là mô-típ ba cô, nhưng có thể thấy sự khác biệt với ba cô tiền chiến ở vẻ mông lung hư ảo nhiều hơn, phần hồn át hẳn phần xác, nhịp chân tíu tít, bước chân tung tẩy như không chạm đất, sự trong trắng phát sáng từ bên trong. Các cô đã rời cõi thế lên tiên giới. Trong khi đó, các nhân vật nữ ở tiền diện thể hiện ý tưởng ba miền Bắc Trung Nam: thiếu phụ mặc áo dài kiểu cổ đánh đàn tỳ bà là người Trung, thiếu phụ người Bắc nằm như trong các tranh tiền chiến (vẫn là nhân vật trong hoài niệm của tác giả sống xa quê hương), bà già Nam Bộ đội khăn vẻ mặt ưu tư và cô gái Sài Gòn hồn nhiên trong áo dài lửng cổ Lệ Xuân.
Bức "Vườn xuân" khổ 1,2 m x 1,8 m nói trên là sáng tác theo yêu cầu của một người bạn của họa sĩ, bác sĩ Phạm Văn Hải, ông này muốn có “một tác phẩm để đời" của Nguyễn Gia Trí. Năm 1975, bác sĩ di tản, bức tranh trong nhà ông đã được một vị tướng của chế độ mới bán rẻ như biếu không, người may mắn mua được là hoạ sĩ sơn mài Nguyễn Thanh Liêm. Chính từ cái duyên này, Nguyễn Thanh Liêm đã kết thân được với gia đình lão hoạ sĩ để rồi làm mai cho TPHCM mua tác phẩm lớn cuối cùng của ông với giá 600 triệu đồng vào năm 1991 (tương đương 100.000 đôla), một kỷ lục về giá tranh ở Việt Nam từ trước đến nay. Gần đây chủ nhân cũ của bức "Vườn xuân" 1970 về nước, ông có tìm đến thăm lại báu vật xưa. Ông ngồi thẫn thờ hồi lâu nhưng rồi tự an ủi: “Dù sao tôi cũng vui vì cứ ngỡ cộng sản đã chặt nát mất rồi".
Có thể nói tâm tư về sự thống nhất đất nước thể hiện trong bức tranh trên là nỗi ám ảnh sâu xa nhất trong những năm cuối đời HS Nguyễn Gia Trí. Ngay sau bức "Vườn xuân", ông đã cùng bác sĩ Tín (người sản xuất dầu gió khuynh diệp nổi tiếng ở miền Nam) nhất trí về bức tranh cỡ lớn với đề tài này, bức “Vườn xuân Trung Nam Bắc" [13]. Bức tranh 9 tấm kích thước tổng cộng 2x5,4 m - bức lớn nhất còn lại của Nguyễn Gia Trí - mà ông làm cho bác sĩ Tín được tiến hành từ đầu những năm 70.
Sau 1975, người đặt tranh đã di tản, trong điều kiện khó khăn của TPHCM một thời kỳ dài, họa sĩ vẫn quyết hoàn thành tác phẩm lớn mà ông biết sẽ là cuối cùng của đời mình. Để nuôi sống gia đình một cách khiêm nhường và đầu tư cho tác phẩm này, ông phải làm những tranh nhỏ để khách mang “chui" ra nước ngoài (vì tranh Nguyễn Gia Trí đã nằm trong danh mục “văn hoá phẩm quí cấm xuất khẩu"). Vậy mà lúc tranh đang làm dở, có người trả 14 lượng vàng ông không chịu bán. Mãi cho đến năm 1990, khi UBND TPHCM quyết định mua tác phẩm, nó vẫn chưa hoàn chỉnh như ý đồ của hoạ sĩ. Một phần vì khó khăn về nguyên liệu (bà Trí phải bán dần vóc và son để mua từng thếp vàng cho tranh). Phần quan trọng là vì hoạ sĩ bắt đầu lâm bệnh: trận tai biến mạch máu não đầu tiên xảy ra vào năm 1988, sau đó còn hai lần nữa trước khi ông qua đời. Do đó khâu làm vàng mặt tranh ông phải giao phó cho học trò là Nguyễn Xuân Việt.
Tác phẩm "Vườn xuân Trung Nam Bắc" tổng hợp mọi thành tựu trong nửa thế kỷ tìm tòi sáng tạo về sơn mài của Nguyễn Gia Trí với những yếu tố của đề tài “thiếu nữ trong vườn" quen thuộc được bổ sung, đổi mới. Sự cộng hưởng giữa các chất liệu vàng son vỏ trứng trong bố cục phối hợp nhịp nhàng các hình hoạ khiến bức tranh như một bản giao hưởng mà mọi thành phần đều vang lên cùng một lúc, lại như màn vũ kịch trong đó các nhân vật cùng cây lá, nhóm thì tĩnh tại làm nền cho những nhóm chuyển động với các cấp tiết tấu khác nhau. Trung tâm bức tranh là nhóm thiếu nữ Trung Nam Bắc trong trang phục hơi xưa. Cạnh đó là hai đứa bé như trong tranh dân gian cưỡi con kỳ lân huyền thoại chạy chơi. Phía sau là ngôi miếu cổ nhỏ nhưng trang nghiêm. Xen với các nét văn hoá truyền thống đó là không khí hiện đại tạo bởi hai nhóm thiếu nữ áo trắng múa quay tròn. Nếu nhóm bên trái còn giữ mức tiết tấu vừa phải như trong bức "Vườn xuân" 1970 thì ở ba cô gái bên phía tay phải, thần bút Nguyễn Gia Trí đã hiện hình được cái ảo, cái cuộn bay, cảm giác chóng mặt của vũ điệu quay tít có sức quyến rũ ma thuật, nếu nhìn lâu ắt phải “nhập đồng" theo. Khó hình dung họa sĩ làm thế nào giữ được cảm xúc một hơi trên cả tấm tranh lớn như vậy qua một thời gian dài, một sự “xuất thần suốt hai chục năm" như nhận xét của hoạ sĩ Nguyễn Xuân Việt. Xúc cảm ấy bộc lộ rõ trong từng mảng vỏ trứng thể hiện tà áo tung bay, trong từng mảng lá phượng chuyển sắc tinh tế, trong đôi bướm vờn sống động... Với kiệt tác này, thật sự Nguyễn Gia Trí đã đạt được mong muốn của mình: “Vẽ tranh muốn 10 năm như 1 giờ, vóc trăm cân như không còn trọng lượng." (Khi tác phẩm hoàn thành, cụ Trí nói: “Không phụ lòng anh em.")
Trong lúc gíúp Thầy mình làm tranh, Nguyễn Xuân Việt có hỏi: “Không biết bức này sẽ nằm ở đâu?", cụ bảo: “Đặt vấn đề ấy là thừa." Bởi cụ thường tâm niệm: “Nghệ thuật là vô cầu. Vì vô cầu nên nó hướng đến một cái gì đó rất cao." Nhưng lịch sử cuối cùng bao giờ cũng công bằng. Tác phẩm tinh túy bậc nhất của người thầy nghệ thuật sơn mài Việt Nam đã được đặt đúng chỗ: Bảo tàng Mỹ thuật TPHCM.
Về con người Nguyễn Gia Trí, chúng ta chưa có điều kiện hiểu nhiều và cũng có những điều chưa đến lúc nói ra (chủ yếu vì tôn trọng ý nguyện của gia đình cố hoạ sĩ).
Ông người nhỏ nhắn, gương mặt không có vẻ gì đặc biệt khác với các trí thức nghiêm túc “thời Tây", nhất là với cặp kính cận to đeo thường trực. Một nét trong tính cách ai cũng nhận thấy ở ông là lặng lẽ, ít giao du, ít nói nhưng nói thì lắm lúc khá hài hước. Một người Pháp kể: Khi tiếp khách đến thăm xưởng, Trí có kiểu “làm dáng" là tự làm người ta quên mình đi, nếu có ai đề cập quá thẳng đến tài nghệ của ông thì ông chỉ nói: “Sơn mài đẹp quá!", như thể mình chẳng có vai trò gì trong đó. HS Hoàng Tích Chù kể, khi báo chí hỏi vì sao đi vào hội họa, Nguyễn Gia Trí đã trả lời: “Nghịch mà vẽ".
Đời ông hầu như chỉ có một đam mê duy nhất là ở bên những tấm vóc sơn mài. Nhà văn Kim Lân nhớ nhất hình ảnh “ông chủ" của mình ngồi sụp xuống đất mài tranh trong xưởng vẽ. Bà Trí cho biết lịch sinh hoạt hàng ngày hầu như bất di bất dịch của ông: 5 giờ sáng ngủ dậy, vệ sinh xong là sang ngay xưởng sắp xếp công việc cho thợ - 7 giờ về ăn sáng rồi sang xưởng làm việc - 11 giờ 30 về ăn cơm, không ngủ trưa đến 1 giờ lại sang xưởng - 6, 7 giờ tối về ăn cơm, nghỉ một chút lại sang xưởng làm việc đến khuya, thường tới 1, 2 giờ sáng. (Sau này ông nói với Nguyễn Xuân Việt: “Sơn mài khác sơn dầu ở công hạnh", “Vẽ sơn mài có lúc như thợ mộc, như nông dân đi cày".) Có khi ông không về, bà sang xưởng thì thấy ông đã ngủ thiếp trên chiếc giường sắt nhà binh mà người cháu đem về từ Biệt điện Bảo Đại trên Đà Lạt. Mời ông đi chơi thật là khó. Lúc nào ông cũng bảo: “Để tôi trông nhà cho". Bán bức tranh "Vườn xuân" cho bác sĩ Hải, mua được chiếc xe hơi La Dalat (hồi đó xe hơi rất đắt), nhưng chẳng bao giờ ông chịu lái chở vợ đi chơi, ông nói: “Nhờ người khác lái, hoặc đi taxi có lợi hơn".

Cũng bởi thế, Nguyễn Gia Trí sống rất giản dị. Tiền ông làm ra không ít, nhưng ngoài việc đầu tư cho sơn mài, hầu như ông không có nhu cầu gì lớn. Trong xưởng vẽ trước kia ở làng Thịnh Hào, đồ đạc của ông cũng chỉ có một chiếc giường cá nhân và một ngăn sách. Giới hoạ sĩ hồi đó thường truyền nhau rằng: “Trí làm ra tiền cho Tứ (nhà văn Đoàn Phú Tứ - bạn thân của ông) tiêu". Sau 1954 thì mọi việc tài chính đều do bà Trí quán xuyến, ông chỉ chuyên tâm vẽ. Sau một thời gian ngắn sống khổ sở ở gần Lò heo Gò Vấp, ông bà Trí thuê rồi mua lại hai căn liền nhà ngói cũ một tầng (trệt) trong ngõ đường Ngô Đình Khôi (sau đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm đổi tên là đường Cách Mạng, sau 1975 đổi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa rồi Nguyễn Văn Trỗi), một bên ở một bên làm xưởng. Nhà ở cũng như xưởng của ông rất tuềnh toàng, mấy chục năm hầu như không sửa chữa gì. Căn xưởng nát, mái trổ vài viên lắp kính để thêm ánh sáng trời, và cũng như ở xưởng Thịnh Hào xưa, có một chiếc thang đôi để ông trèo lên khi cần nhìn toàn cảnh những tranh lớn. Tường sau căn xưởng bị nứt toác, HS Nguyễn Xuân Việt nói lần nào đi qua anh cũng rùng mình vì trông y như cái máy chém rớt xuống lúc nào không biết. Ông gắn bó với ngôi nhà giản dị của mình đến mức sau khi tranh "Vườn xuân Trung Nam Bắc" bán được, trong lúc ông đi bệnh viện thì con ông xây lại nhà mới, khi đón ông về, đến trước cửa nhà ông không chịu vào và kêu lên: “Đây không phải nhà tôi". Khi biết rõ là nhà mình được xây lại, ông “bắt đền" và bảo: “Thế này thì bạn bè làm sao biết là nhà tôi mà đến chơi!"
Chuyện ăn mặc thì ông chẳng quan tâm gì tới. Bà Trí cho biết ông ăn uống rất đơn giản, đúng khẩu vị thanh tao dân Hà Nội xưa, chỉ cần đồ ăn nóng sốt. Ông bảo bà: “Nếu thiếu lắm thì ăn nước mắm chưng cũng được". Ông không biết nhậu nhẹt, hàng tháng bà cứ “nhập" đều đều cho ông 30 chai bia, 1 chai rượu Martell, 10 chai soda để ông uống trong lúc làm việc, còn cà phê thì mỗi ngày đến 4-5 phin. Theo một số hoạ sĩ gần gụi ông cuối đời, ông chẳng để ý là mình đi hai chiếc vớ hai màu khác nhau, cũng như bộ com-lê diện của mình là “mặc thừa" của ông anh là GS Tường.
Thật khó ngờ con người đam mê nghệ thuật và lặng lẽ ấy lại là một nhà cách mạng chống Pháp thực sự đã chịu tù đầy tra tấn vì nghĩa lớn của dân tộc. Sau 1954, có thể ông đã nguội lửa đấu tranh trước những diễn biến phức tạp của lịch sử, nhưng lòng khảng khái trước quyền lực của ông thì còn nguyên. Có nhiều chuyện kể về những lần ông từ chối vẽ tranh cho ông Ngô Đình Diệm cũng như Đại sứ Mỹ Bunker khi họ đòi ông vẽ theo ý họ. Ông cũng từ chối yêu cầu của bà Cố vấn Trần Lệ Xuân đòi dành riêng một buổi cho gia đình bà đến xem trong dịp ông triển lãm tại nhà năm 1959. Và người Sài Gòn thì không quên bức biếm hoạ 6 con chuột khoét ruỗng quả dưa hấu trên báo Tự do xuân năm Canh Tý, khiến ông phải “đi trốn" một thời gian. Cũng từ thời gian này, ông ngày càng ham mê nghiên cứu Phật giáo và triết học Trung Hoa cổ. Đôi lá thư ông viết cho các bạn văn nghệ trước 75 hay những lời ông dạy đệ tử Nguyễn Xuân Việt sau 75 cho thấy rõ ông ngày càng tâm niệm nghệ thuật gắn làm một với “Tâm", với “Đạo". Những suy nghĩ về nghệ thuật của người mang pháp danh Thiện Chân ngày càng thấm nhuần triết lý thiền: “Phải luôn luôn nhớ: tranh mình chỉ là phương tiện để tu tập mà thôi", “Hội hoạ gần với tôn giáo vì nó xuất phát từ tâm người ta"... Hai mươi ngày trước khi ông qua đời, Nguyễn Xuân Việt đến thăm, ông không nói được nữa, chỉ ra dấu: khép lại hai mắt, khép lại hai tai, khép lại đôi môi, rồi ngón tay ông chỉ vào giữa trán. Đó chính là vị trí “con mắt thứ ba", “con mắt huệ", ngõ vào duy nhất để tiếp nhận chân lý sự sống cũng như chân lý nghệ thuật.
Một đời tìm tòi sáng tạo để đưa sơn mài Việt Nam lên được địa vị một chất liệu hội hoạ hiện đại, với những kiệt tác hoà quyện cái cổ truyền và cái thời đại, với nhân cách và bản lĩnh sống thật cao thượng đến tận giờ phút cuối cùng, Nguyễn Gia Trí xứng đáng là bậc “đạo sư" của tất cả những ai coi nghệ thuật là thiêng liêng, của những ai thành tâm muốn tìm một lối đi cho văn hoá Việt giữa thời giao lưu toàn cầu này.
Hoàng Hưng SG 5/4/1998
Những bậc danh họa Việt Nam thế kỷ XX chuyên về sơn mài như Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng đã để lại di sản đồ sộ, kể tới hàng trăm mét tranh... Tài năng và sức lao động của họ thực đáng kính nể. Anh có cho rằng các họa sĩ hôm nay quan tâm nhiều tới đời sống hơn là nghê thuật nên cảm giác chung sự nghiệp của họ hời hợt và nhỏ bé?

- Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Sáng là những cây đại thụ của mỹ thuật Việt Nam hiện đại. Sự nghiệp của các ông thật vĩ đại, mãi là tấm gương lớn cho họa sĩ Việt Nam. Tôi cho rằng di sản đồ sộ của hai ông, các họa sĩ mọi thế hệ chưa có ai vươn tới được. Nếu anh xem những tác phẩm còn lại ở Việt Nam, thì sẽ thấy những ý tưởng và quan niệm của các ông về nghệ thuật sơn mài.

Bà Nguyễn Gia Trí, khi chúng tôi vào thăm năm 1992 (trước lúc ông qua đời một năm) có kể: ông Trí làm tranh không hết hợp đồng, hầu hết khách đặt tranh là những tỷ phú Nam Phi, Nam Mỹ. Họ đến xin ông vẽ những tranh khổ lớn và không yêu cầu về hình thức nghệ thuật, tùy ông muốn. Tranh ông bán đo bằng ca-rê. Bà Trí bảo có lần tôi phải đo tranh bán cho một người khách ở Nam Phi, 1m2 ở mé bên phải tranh tôi tính gấp tám lần. Ông khách hỏi tại sao vậy? Ông Trí trả lời chỗ ấy tôi chữa lại tám lần giáp vàng. Vì vậy phải tính thế mới đúng. Theo tôi hiểu các họa sĩ trong lịch sử Hội họa hiện đại có duy nhất danh họa Nguyễn Gia Trí bán tranh tính bằng ca-rê.

Bà Trí nói thêm: Có ba bức tranh ông Trí dặn lại, "để cho thế hệ mai sau nghiên cứu". Đó là 3 bức tranh sơn mài khổ lớn lưu tại Thư viện quốc gia TP Hồ Chí Minh mà ông kể vợ Ngô Đình Nhu mua định tặng Nhật Hoàng, nhưng ông yêu cầu phải để lại trong nước. Những năm 70 của thế kỷ XX, tài chính của Nguyễn Gia Trí tới hàng nghìn cây vàng. Thế mà khi mất, ngoài tranh tài sản của ông chẳng có gì đáng kể, tất cả dành cho nghệ thuật!

Thời kỳ đó ở miền bắc, như anh biết: ai nghèo và cô đơn như Nguyễn Sáng! Ông chịu mọi thiệt thòi trong cuộc sống, nhà cửa chật chội 10m2, vợ con không có, tết mọi nhà ấm cúng sum vầy, ông lủi thủi đi trong đêm 30. Vậy mà Nguyễn Sáng với những sáng tác đồ sộ minh chứng cho lịch sử nghệ thuật một tài năng xuất chúng, lao động không mệt mỏi, đã ra đời những tác phẩm bất hủ, bất chấp hoàn cảnh.

Ngày nay, một số họa sĩ hoàn toàn ngược lại. Họ quan tâm tới ô-tô, nhà to hơn nghệ thuật. Một số sau khi bán tranh (tranh chợwink được món tiền kha khá là nghĩ ngay đến hưởng thụ. Những người như thế làm gì có sự nghiệp, có chăng chỉ nhà cao cửa rộng và những mớ hàng phi nghệ thuật. Cơ chế thị trường có sức mạnh ghê gớm. Vừa làm cho nghệ thuật phát triển, vừa tiêu diệt những tài năng mới nhú. Theo tôi vấn đề là bản lĩnh nghệ sĩ. Về vật chất, danh họa Nguyễn Sáng nói: "Nếu không vì nghệ thuật, rải tiền đầy đường tôi cũng dẫm lên mà đi; Nếu còn vì nghệ thuật, tôi sẵn sàng kiếm từng đồng xu để sống". Danh họa Nguyễn Gia Trí thì nói: "Tiền là cần song nếu không biết dừng nó sẽ nuốt mình luôn".

------------------------
Nguyễn Gia Trí (1908-1993) sinh tại tỉnh Hà Tây, Việt Nam. Khi còn là sinh viên của trường đại học nổi tiếng Indochina Fine Arts College (1931-1936), ông là người đi đầu trong việc chuyển những bức tranh sơn mài từ trang trí thành những tuyệt phẩm nghệ thuật và từ đó ông đã được mệnh danh là "người cha đẻ những bức tranh sơn mài tân thời của Việt Nam". Ông Nguyễn Gia Trí là một trong những họa sĩ nổi tiếng đi đầu trong việc tạo ra một khuynh hướng nghệ thuật mới cho Việt Nam, với những đường nét vẽ thanh lịch và những tư tưởng mới về nghệ thuật sơn mài. Ông phối hợp lối in khắc với những phương thức sơn mài mới, đồng thời áp dụng các nguyên tắc cấu trúc tranh vẽ phương Tây, để tạo những bức họa hiện đại mang đầy tính chất dân tộc. Những tác phẩm của ông có thể tìm thấy trong Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Việt Nam tại Hà Nội và Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật tại Sài Gòn. Họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã được chỉ định là Bảo Vật Quốc Gia. Vì thế, những tác phẩm của ông đã không được phép rời khỏi nước, khiến cho ngày càng khó kiếm tác phẩm của ông ở nước ngoài.
 

NGUYỄN GIA TRÍ với sơn mài

Tuesday, 2. March 2010, 07:43:24
My thuat

Theo họa sĩ bậc thầy Nguyễn Tư Nghiêm, ở thế kỷ 20, nền hội họa Việt Nam có để lại một số tên tuổi lớn, nhưng kỳ thực, họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm chỉ nhắc có ba người: Nguyễn Phan Chánh với tranh lụa, Nguyễn Gia Trí - sơn mài và Tô Ngọc Vân - sơn dầu.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí sinh năm 1908 ở tỉnh Hà Đông cũ. Ông học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 4 (1928 - 1933), gián đoạn một thời gian, rồi vào học lại ở khóa 7 (1931 - 1936). Tốt nghiệp bằng một tác phẩm lụa.
Sau khi ra trường, ông tham gia một số cuộc triển lãm của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Salon Unique.

Triển lãm cá nhân lần đầu tiên năm 1939. 1944, triển lãm cùng Phạm Hậu tại Nhà thông tin Tràng Tiền.
1945, tham gia Triển lãm Văn hóa do Hội Văn hóa Cứu quốc tổ chức tại Nhà Khai Trí Tiến Đức: “một bức lụa có mấy thiếu nữ khỏa thân, màu sắc ẩn hiện như cảnh liêu trai”.
Từ 1935 đến 1939, Nguyễn Gia Trí tham gia vẽ tranh bìa (chủ yếu biếm họa chính trị và tranh hài hước), nhiều minh họa, phụ bản (đặc biệt tranh Tết) cho các báo “Phong hóa”, “Ngày nay” - tạo nên một bộ tranh về đủ mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam thời trước cách mạng. Thường ký trên một số biếm họa và minh họa là “Rigt” (một trò chơi đảo lộn trình tự các chữ cái của G.Trí).
Từ 1954, ông vào Nam, sống và sáng tác tại Sài Gòn. Mất năm 1993.
Hoạt động nghệ thuật của Nguyễn Gia Trí chỉ mới thực sự kết thúc vào cuối thập niên 1980, sau khi ông hoàn thành bức tranh sơn mài vĩ đại Vườn xuân Trung Nam Bắc (200x540cm). Bức tranh đã được ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mua năm 1991, với giá 600.000.000đ và hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố.
Trong thời kỳ cực thịnh của hội họa sơn mài Việt Nam những năm 1938-1944, quả nhiên, Nguyễn Gia Trí đã đứng ở vị trí hàng đầu với những tác phẩm chuẩn đích mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
1939, Tô Ngọc Vân đã từng viết: “... Đến cuộc thí nghiệm Nguyễn Gia Trí, lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. ở óc, ở tâm hồn người ấy ra nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng. Nghệ thuật của Gia Trí là ý tưởng, tình cảm của Gia Trí đúc lại, một nét, một vết, một màu đều phải ở tay nghệ sĩ mà ra. Đứng trước những tác phẩm ấy, người ta cảm thấy tất cả các băn khoăn, yêu mến, khoái lạc, thứ nhất là khoái lạc - của Gia Trí”(1).
1944, về tác phẩm Bên hồ Hoàn Kiếm của Nguyễn Gia Trí, Claude Mahoudot, với bút danh Cl.M., viết: “... những người phụ nữ ở đây làm gợi nhớ tới vẻ duyên dáng bởi một Watteau, cái thanh thoát của một phác thảo kiểu Pháp thế kỷ 18 và những ma lực thanh xuân bởi một Botticelli”(2).
Không khác những người Hy Lạp cổ “thời kỳ Apelle” cách ngày nay hơn hai ngàn năm, về căn bản, Nguyễn Gia Trí chỉ sử dụng có bốn màu: đỏ, đen, vàng, trắng - nhưng, như một nhà ảo thuật lão luyện, ông biến hóa chúng thành những “chất màu” chưa ai biết đến: “thấm đượm như bóng đêm, sáng như vầng trăng bạc, lấp lánh như lá vàng dưới nắng” - trong vô vàn sắc thái kỳ lạ như được ánh ra từ nhung, lĩnh, men sứ, đồi mồi, đá quý.
Bằng một sự thanh thản tối cao, ông “phác thảo” ra những nét vàng chói sáng, bay bổng, tài hoa quán xuyến toàn bộ bố cục, đem lại cái nhịp nhàng, cân đối và thống nhất, làm nổi bật các hình thể con người, cảnh vật trên cái sâu thẳm của nền tranh mà bề mặt bao giờ cũng nhẵn mịn, phẳng lì, bóng như ướt nước. Tất cả quyện vào nhau thành một khối hổ phách trong veo, gây hiệu quả tương phản: cực kỳ lộng lẫy mà lại vô cùng trang nhã, thâm trầm.
Người ta dễ dàng nhận ra ở Nguyễn Gia Trí một phong cách nhất quán trong thể loại sơn mài cổ điển “đồng nhất” (laque unie), cho dù ông có theo đuổi bất cứ đề tài nào: “thiếu nữ - vườn cây - lầu tạ”, “kinh thánh” hay cách quãng chuyển hẳn sang những thử nghiệm thuần túy trừu tượng.
Từ những đỉnh cao nhất thời kỳ đầu thập niên 1940: Bên hồ Hoàn Kiếm, Vườn xuân và thiếu nữ, Thiếu nữ bên đầm sen, Thiếu nữ bên hoa phù dung - cho đến tác phẩm cuối cùng mang tính tổng kết Vườn xuân Trung Nam Bắc - Nguyễn Gia Trí vẫn luôn luôn giữ được một phong độ bậc thầy, nếu có gì khác thì cũng đúng với điều ông đã nói: “Sự sai lầm cũng như sự thành công, có giá trị ngang nhau. Vì chúng đều có công dụng thúc đẩy người nghệ sĩ đi tới”, “Với nghệ sĩ, tác phẩm đi qua và năng lực sáng tạo còn lại”.
Và dưới đây, xin trân trọng giới thiệu nguyên văn một hồi ký tràn trề cảm xúc của họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp, với nhan đề “Một chút kỷ niệm gợi nhớ tới họa sĩ Nguyễn Gia Trí”(3):
Đã qua quá nửa thế kỷ rồi và tôi đã đến cái tuổi gần 80 nên tôi chỉ còn nhớ được hồi ấy xưởng vẽ của ông Nguyễn Gia Trí ở gần nhà thờ Nam Đồng, phía trên gò Đống Đa một quãng.
Năm học 1941-1942, anh em sinh viên chúng tôi ở khóa 13 (1939-1944) Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương bắt đầu học tập làm tranh sơn mài vào các buổi chiều trong tuần, còn các buổi sáng vẫn tập vẽ sơn dầu (vẽ người mẫu tại lớp hoặc đi vẽ phong cảnh bên ngoài). Một buổi sáng, ông giáo người Pháp (tức Inguimberty - Q.V) cho chúng tôi biết ông Nguyễn Gia Trí cần hoàn thành vội mấy bức tranh sơn mài nên muốn nhờ thêm người giúp việc. Ông giáo chọn ra một số anh em lớp chúng tôi (trong đó có tôi) và dặn ngay chiều hôm ấy chúng tôi sẽ đến giúp việc cho ông Nguyễn Gia Trí tại xưởng vẽ ở địa điểm như tôi đã trình bày ở trên. Ông giáo còn nói thêm đại ý là đến học tập làm tranh sơn mài với ông Nguyễn Gia Trí có lẽ sẽ tiến bộ nhanh hơn ở trường, nhưng đừng quên vẫn phải đến lớp tập vẽ sơn dầu vào các buổi sáng.
Xưởng vẽ của họa sĩ Nguyễn Gia Trí ở trong một khu vực có vườn hoa, có sân rộng, có nhà tường gạch, mái ngói..., và tuy ông sống độc thân nhưng tôi vẫn thấy xưởng vẽ của ông chật chội vì chỗ nào cũng bề bộn những dụng cụ, vật liệu làm sơn mài, những bức bình phong sơn mài còn chưa hoàn thành dựng tựa vào các mảng tường trong nhà và cả những tấm vóc vẫn còn là nền sơn mới được phác hình, mảng và nét bằng bột màu trắng dựng tựa vào các bức tường bên ngoài.
Đã có nhiều người giúp việc ông Nguyễn Gia Trí: ngoài những bác thợ sơn chuyên nghiệp đang làm việc bên các sải sơn còn có cả một số anh em họa sĩ khoa kỹ thuật sơn mài đang chăm chút tô nét, quét mảng bằng các màu sơn đã pha trộn theo đúng màu ở bản phác thảo hoặc đang gắn vỏ trứng vào các mảng đã được bóc mặt sơn trên các tấm vóc, lại có người đang mài những tấm vóc loáng nước đặt trên những chiếc mễ thấp ở ngoài sân... Nhóm anh em sinh viên chúng tôi mới đến cũng được làm một số việc hợp với trình độ những người mới tập làm sơn mài. Ông Nguyễn Gia Trí đi đến chỗ này, chạy đến chỗ kia góp ý kiến hướng dẫn mọi người làm cho đúng hơn, tốt hơn. Có lúc ông dừng lại lâu một chỗ và cầm bút sửa một số nét, mảng. Có khi tự tay ông gắn vỏ trứng vào một khoảng trên một tấm vóc... Phải nói rằng sự hướng dẫn của ông rất kỹ đến từng chi tiết nhỏ của từng phần việc, nhưng có khi ông chỉ đến đứng xem một anh em nào đó đang làm và khuyến khích cứ làm tiếp như vậy.
Sau một thời gian làm xong công việc ở xưởng vẽ của họa sĩ Nguyễn Gia Trí, nhóm sinh viên lớp chúng tôi trở về trường học cả hai buổi sáng, chiều như cũ. Riêng tôi nhận làm việc thêm cho ông Nguyễn Gia Trí vào các ngày chủ nhật, nhưng không phải làm ở xưởng vẽ vì ông Trí giao cho tôi đi ghi một số tài liệu cần thiết để bổ sung cho những tài liệu ông đang dùng làm phác thảo cho những bức tranh sơn mài khác. Xin nói thẳng là tôi vẽ thuê cho ông Nguyễn Gia Trí chứ không phải là làm giúp. Gia đình tôi nghèo, tôi vẫn phải sống dựa vào bố mẹ vì nếu chỉ trông vào số tiền học bổng ít ỏi thì chỉ tạm đủ ăn chứ không còn tiền mua thêm vật liệu, họa cụ cần thiết.
Tôi không có xe đạp nên phải đi bộ, tay cắp cặp vẽ, tay xách túi đựng bút vẽ, hộp màu lang thang đến các vùng quê ngoại thành để ghi tài liệu theo yêu cầu của ông Nguyễn Gia Trí. Ông Trí dặn tôi cần nhận xét, chọn lọc và ghi kỹ những rặng tre, bụi chuối, quán nước, gốc đa, bến sông, bãi chợ... Cứ như thế, tôi vừa làm thuê cho ông Trí vừa làm việc cho bản thân tôi vì tôi còn phải có tài liệu riêng để làm một số tranh trong thời gian nghỉ hè coi như làm bài thi lên lớp. Có lần ông Trí bảo tôi đi tìm vẽ cảnh một ao sen để ông sẽ dùng làm tài liệu cho một bức tranh sơn mài. Thời gian nghỉ hè sắp hết. Tôi cố gắng đi tìm mãi mới gặp một ao sen chưa đến mức bông tàn, lá héo hết như nhiều ao sen khác. Thật may mắn vì ao sen mới gặp này tuy đã có những bông bắt đầu rụng cánh xuống mặt nước ao nhưng vẫn còn những bông nguyên vẹn. Với những lá sen cũng vậy, vẫn còn những lá tươi nguyên nhưng cũng đã có những lá đang tàn trơ ra mấy mảng chỉ còn xương lá, vậy mà khoảng trũng giữa lá còn xanh vẫn cố giữ được những giọt sương lóng lánh. Tôi rất thích cảnh”Sen cuối hạ” này nên đã say sưa ghi chép, cố gắng diễn tả theo đúng cảnh thực. Khi tôi mang những tài liệu kể trên về đưa cho ông Nguyễn Gia Trí xem thì ông vỗ đầu khen hay và thích nhất tài liệu “Sen cuối hạ”.
Đến Triển lãm Mùa Thu năm 1944 của sinh viên các lớp thuộc khoa hội họa và khoa điêu khắc của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Phòng Thông tin phố Tràng Tiền, tôi đang lúi húi lau sạch một vài chỗ bám bụi trên bức tranh sơn mài Chăn trâu dưới gốc thông - là một trong các bài thi tốt nghiệp của tôi, vì lúc ấy chưa đến giờ khai mạc, tôi bỗng thấy ông giáo người Pháp (tức Inguimberty - Q.V) đi cùng ông Nguyễn Gia Trí đến chỗ tôi. Ông Nguyễn Gia Trí tươi cười, đôi mắt trong cặp kính cận ánh lên vui vẻ. Ông bắt tay tôi thật chặt rồi xem đi xem lại rất kỹ bức tranh sơn mài của tôi nhưng lại không nói gì cả, còn ông giáo người Pháp vốn quen tính chỉ hay gật và lắc thì lại nói hơi nhiều. Ông ta nói chuyện với ông Trí về quá trình hướng dẫn anh em làm bài thi tốt nghiệp ở lớp chúng tôi và tỏ vẻ phấn khởi. Và trước khi cùng ông Trí đi ra phía cửa phòng triển lãm để chuẩn bị đón tiếp những khách được mời đến dự lễ khai mạc triển lãm, ông giáo người Pháp còn gật đầu, mỉm cười nói với tôi : “Vous avez trouvé... C’est le chemin qu’il faut suivre”. Tôi xin phép được dịch tạm sang tiếng Việt như sau: “Anh đã tìm thấy... Đấy là con đường cần phải theo” (Hà Nội, tháng 9/1996).

(Theo hoimythuatvietnam)
GUYỄN GIA TRÍ VỚI SƠN MÀI
 (Thứ Hai, 01/02/2010 - 9:28 AM)
NGUYỄN GIA TRÍ-Vườn xuân Trung Nam Bắc (trích)-sơn mài, 1970-1990
Theo họa sĩ bậc thầy Nguyễn Tư Nghiêm, ở thế kỷ 20, nền hội họa Việt Nam có để lại một số tên tuổi lớn, nhưng kỳ thực, họa sĩ Nguyễn Tư Nghiêm chỉ nhắc có ba người: Nguyễn Phan Chánh với tranh lụa, Nguyễn Gia Trí - sơn mài và Tô Ngọc Vân - sơn dầu.
Họa sĩ Nguyễn Gia Trí sinh năm 1908 ở tỉnh Hà Đông cũ. Ông học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa 4 (1928 - 1933), gián đoạn một thời gian, rồi vào học lại ở khóa 7 (1931 - 1936). Tốt nghiệp bằng một tác phẩm lụa.
Sau khi ra trường, ông tham gia một số cuộc triển lãm của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Salon Unique.
Triển lãm cá nhân lần đầu tiên năm 1939. 1944, triển lãm cùng Phạm Hậu tại Nhà thông tin Tràng Tiền.
1945, tham gia Triển lãm Văn hóa do Hội Văn hóa Cứu quốc tổ chức tại Nhà Khai Trí Tiến Đức: “một bức lụa có mấy thiếu nữ khỏa thân, màu sắc ẩn hiện như cảnh liêu trai”.
Từ 1935 đến 1939, Nguyễn Gia Trí tham gia vẽ tranh bìa (chủ yếu biếm họa chính trị và tranh hài hước), nhiều minh họa, phụ bản (đặc biệt tranh Tết) cho các báo “Phong hóa”, “Ngày nay” - tạo nên một bộ tranh về đủ mọi mặt của đời sống xã hội Việt Nam thời trước cách mạng. Thường ký trên một số biếm họa và minh họa là “Rigt” (một trò chơi đảo lộn trình tự các chữ cái của G.Trí).
Từ 1954, ông vào Nam, sống và sáng tác tại Sài Gòn. Mất năm 1993.
Hoạt động nghệ thuật của Nguyễn Gia Trí chỉ mới thực sự kết thúc vào cuối thập niên 1980, sau khi ông hoàn thành bức tranh sơn mài vĩ đại Vườn xuân Trung Nam Bắc (200x540cm). Bức tranh đã được ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mua năm 1991, với giá 600.000.000đ và hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố.
Trong thời kỳ cực thịnh của hội họa sơn mài Việt Nam những năm 1938-1944, quả nhiên, Nguyễn Gia Trí đã đứng ở vị trí hàng đầu với những tác phẩm chuẩn đích mà đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
1939, Tô Ngọc Vân đã từng viết: “... Đến cuộc thí nghiệm Nguyễn Gia Trí, lối sơn ta không còn là một mỹ nghệ nữa. ở óc, ở tâm hồn người ấy ra nó đã được nâng lên mỹ thuật thượng đẳng. Nghệ thuật của Gia Trí là ý tưởng, tình cảm của Gia Trí đúc lại, một nét, một vết, một màu đều phải ở tay nghệ sĩ mà ra. Đứng trước những tác phẩm ấy, người ta cảm thấy tất cả các băn khoăn, yêu mến, khoái lạc, thứ nhất là khoái lạc - của Gia Trí”(1).
1944, về tác phẩm Bên hồ Hoàn Kiếm của Nguyễn Gia Trí, Claude Mahoudot, với bút danh Cl.M., viết: “... những người phụ nữ ở đây làm gợi nhớ tới vẻ duyên dáng bởi một Watteau, cái thanh thoát của một phác thảo kiểu Pháp thế kỷ 18 và những ma lực thanh xuân bởi một Botticelli”(2).
Không khác những người Hy Lạp cổ “thời kỳ Apelle” cách ngày nay hơn hai ngàn năm, về căn bản, Nguyễn Gia Trí chỉ sử dụng có bốn màu: đỏ, đen, vàng, trắng - nhưng, như một nhà ảo thuật lão luyện, ông biến hóa chúng thành những “chất màu” chưa ai biết đến: “thấm đượm như bóng đêm, sáng như vầng trăng bạc, lấp lánh như lá vàng dưới nắng” - trong vô vàn sắc thái kỳ lạ như được ánh ra từ nhung, lĩnh, men sứ, đồi mồi, đá quý.
Bằng một sự thanh thản tối cao, ông “phác thảo” ra những nét vàng chói sáng, bay bổng, tài hoa quán xuyến toàn bộ bố cục, đem lại cái nhịp nhàng, cân đối và thống nhất, làm nổi bật các hình thể con người, cảnh vật trên cái sâu thẳm của nền tranh mà bề mặt bao giờ cũng nhẵn mịn, phẳng lì, bóng như ướt nước. Tất cả quyện vào nhau thành một khối hổ phách trong veo, gây hiệu quả tương phản: cực kỳ lộng lẫy mà lại vô cùng trang nhã, thâm trầm.
Người ta dễ dàng nhận ra ở Nguyễn Gia Trí một phong cách nhất quán trong thể loại sơn mài cổ điển “đồng nhất” (laque unie), cho dù ông có theo đuổi bất cứ đề tài nào: “thiếu nữ - vườn cây - lầu tạ”, “kinh thánh” hay cách quãng chuyển hẳn sang những thử nghiệm thuần túy trừu tượng.
Từ những đỉnh cao nhất thời kỳ đầu thập niên 1940: Bên hồ Hoàn Kiếm, Vườn xuân và thiếu nữ, Thiếu nữ bên đầm sen, Thiếu nữ bên hoa phù dung - cho đến tác phẩm cuối cùng mang tính tổng kết Vườn xuân Trung Nam Bắc - Nguyễn Gia Trí vẫn luôn luôn giữ được một phong độ bậc thầy, nếu có gì khác thì cũng đúng với điều ông đã nói: “Sự sai lầm cũng như sự thành công, có giá trị ngang nhau. Vì chúng đều có công dụng thúc đẩy người nghệ sĩ đi tới”, “Với nghệ sĩ, tác phẩm đi qua và năng lực sáng tạo còn lại”.
Và dưới đây, xin trân trọng giới thiệu nguyên văn một hồi ký tràn trề cảm xúc của họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp, với nhan đề “Một chút kỷ niệm gợi nhớ tới họa sĩ Nguyễn Gia Trí”(3):
Đã qua quá nửa thế kỷ rồi và tôi đã đến cái tuổi gần 80 nên tôi chỉ còn nhớ được hồi ấy xưởng vẽ của ông Nguyễn Gia Trí ở gần nhà thờ Nam Đồng, phía trên gò Đống Đa một quãng.
Năm học 1941-1942, anh em sinh viên chúng tôi ở khóa 13 (1939-1944) Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương bắt đầu học tập làm tranh sơn mài vào các buổi chiều trong tuần, còn các buổi sáng vẫn tập vẽ sơn dầu (vẽ người mẫu tại lớp hoặc đi vẽ phong cảnh bên ngoài). Một buổi sáng, ông giáo người Pháp (tức Inguimberty - Q.V) cho chúng tôi biết ông Nguyễn Gia Trí cần hoàn thành vội mấy bức tranh sơn mài nên muốn nhờ thêm người giúp việc. Ông giáo chọn ra một số anh em lớp chúng tôi (trong đó có tôi) và dặn ngay chiều hôm ấy chúng tôi sẽ đến giúp việc cho ông Nguyễn Gia Trí tại xưởng vẽ ở địa điểm như tôi đã trình bày ở trên. Ông giáo còn nói thêm đại ý là đến học tập làm tranh sơn mài với ông Nguyễn Gia Trí có lẽ sẽ tiến bộ nhanh hơn ở trường, nhưng đừng quên vẫn phải đến lớp tập vẽ sơn dầu vào các buổi sáng.
Xưởng vẽ của họa sĩ Nguyễn Gia Trí ở trong một khu vực có vườn hoa, có sân rộng, có nhà tường gạch, mái ngói..., và tuy ông sống độc thân nhưng tôi vẫn thấy xưởng vẽ của ông chật chội vì chỗ nào cũng bề bộn những dụng cụ, vật liệu làm sơn mài, những bức bình phong sơn mài còn chưa hoàn thành dựng tựa vào các mảng tường trong nhà và cả những tấm vóc vẫn còn là nền sơn mới được phác hình, mảng và nét bằng bột màu trắng dựng tựa vào các bức tường bên ngoài.
Đã có nhiều người giúp việc ông Nguyễn Gia Trí: ngoài những bác thợ sơn chuyên nghiệp đang làm việc bên các sải sơn còn có cả một số anh em họa sĩ khoa kỹ thuật sơn mài đang chăm chút tô nét, quét mảng bằng các màu sơn đã pha trộn theo đúng màu ở bản phác thảo hoặc đang gắn vỏ trứng vào các mảng đã được bóc mặt sơn trên các tấm vóc, lại có người đang mài những tấm vóc loáng nước đặt trên những chiếc mễ thấp ở ngoài sân... Nhóm anh em sinh viên chúng tôi mới đến cũng được làm một số việc hợp với trình độ những người mới tập làm sơn mài. Ông Nguyễn Gia Trí đi đến chỗ này, chạy đến chỗ kia góp ý kiến hướng dẫn mọi người làm cho đúng hơn, tốt hơn. Có lúc ông dừng lại lâu một chỗ và cầm bút sửa một số nét, mảng. Có khi tự tay ông gắn vỏ trứng vào một khoảng trên một tấm vóc... Phải nói rằng sự hướng dẫn của ông rất kỹ đến từng chi tiết nhỏ của từng phần việc, nhưng có khi ông chỉ đến đứng xem một anh em nào đó đang làm và khuyến khích cứ làm tiếp như vậy.
Sau một thời gian làm xong công việc ở xưởng vẽ của họa sĩ Nguyễn Gia Trí, nhóm sinh viên lớp chúng tôi trở về trường học cả hai buổi sáng, chiều như cũ. Riêng tôi nhận làm việc thêm cho ông Nguyễn Gia Trí vào các ngày chủ nhật, nhưng không phải làm ở xưởng vẽ vì ông Trí giao cho tôi đi ghi một số tài liệu cần thiết để bổ sung cho những tài liệu ông đang dùng làm phác thảo cho những bức tranh sơn mài khác. Xin nói thẳng là tôi vẽ thuê cho ông Nguyễn Gia Trí chứ không phải là làm giúp. Gia đình tôi nghèo, tôi vẫn phải sống dựa vào bố mẹ vì nếu chỉ trông vào số tiền học bổng ít ỏi thì chỉ tạm đủ ăn chứ không còn tiền mua thêm vật liệu, họa cụ cần thiết.
Tôi không có xe đạp nên phải đi bộ, tay cắp cặp vẽ, tay xách túi đựng bút vẽ, hộp màu lang thang đến các vùng quê ngoại thành để ghi tài liệu theo yêu cầu của ông Nguyễn Gia Trí. Ông Trí dặn tôi cần nhận xét, chọn lọc và ghi kỹ những rặng tre, bụi chuối, quán nước, gốc đa, bến sông, bãi chợ... Cứ như thế, tôi vừa làm thuê cho ông Trí vừa làm việc cho bản thân tôi vì tôi còn phải có tài liệu riêng để làm một số tranh trong thời gian nghỉ hè coi như làm bài thi lên lớp. Có lần ông Trí bảo tôi đi tìm vẽ cảnh một ao sen để ông sẽ dùng làm tài liệu cho một bức tranh sơn mài. Thời gian nghỉ hè sắp hết. Tôi cố gắng đi tìm mãi mới gặp một ao sen chưa đến mức bông tàn, lá héo hết như nhiều ao sen khác. Thật may mắn vì ao sen mới gặp này tuy đã có những bông bắt đầu rụng cánh xuống mặt nước ao nhưng vẫn còn những bông nguyên vẹn. Với những lá sen cũng vậy, vẫn còn những lá tươi nguyên nhưng cũng đã có những lá đang tàn trơ ra mấy mảng chỉ còn xương lá, vậy mà khoảng trũng giữa lá còn xanh vẫn cố giữ được những giọt sương lóng lánh. Tôi rất thích cảnh”Sen cuối hạ” này nên đã say sưa ghi chép, cố gắng diễn tả theo đúng cảnh thực. Khi tôi mang những tài liệu kể trên về đưa cho ông Nguyễn Gia Trí xem thì ông vỗ đầu khen hay và thích nhất tài liệu “Sen cuối hạ”.
Đến Triển lãm Mùa Thu năm 1944 của sinh viên các lớp thuộc khoa hội họa và khoa điêu khắc của Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương tại Phòng Thông tin phố Tràng Tiền, tôi đang lúi húi lau sạch một vài chỗ bám bụi trên bức tranh sơn mài Chăn trâu dưới gốc thông - là một trong các bài thi tốt nghiệp của tôi, vì lúc ấy chưa đến giờ khai mạc, tôi bỗng thấy ông giáo người Pháp (tức Inguimberty - Q.V) đi cùng ông Nguyễn Gia Trí đến chỗ tôi. Ông Nguyễn Gia Trí tươi cười, đôi mắt trong cặp kính cận ánh lên vui vẻ. Ông bắt tay tôi thật chặt rồi xem đi xem lại rất kỹ bức tranh sơn mài của tôi nhưng lại không nói gì cả, còn ông giáo người Pháp vốn quen tính chỉ hay gật và lắc thì lại nói hơi nhiều. Ông ta nói chuyện với ông Trí về quá trình hướng dẫn anh em làm bài thi tốt nghiệp ở lớp chúng tôi và tỏ vẻ phấn khởi. Và trước khi cùng ông Trí đi ra phía cửa phòng triển lãm để chuẩn bị đón tiếp những khách được mời đến dự lễ khai mạc triển lãm, ông giáo người Pháp còn gật đầu, mỉm cười nói với tôi : “Vous avez trouvé... C’est le chemin qu’il faut suivre”. Tôi xin phép được dịch tạm sang tiếng Việt như sau: “Anh đã tìm thấy... Đấy là con đường cần phải theo” (Hà Nội, tháng 9/1996). Quang Việt
1. Tô Ngọc Vân - Nguyễn Gia Trí và sơn ta, “Ngày nay”, số 146, ngày 21/1/1939.
2. Claude Mahoudot - Nguyen Gia Tri, Artiste laqueur, “Indochine”, số 217, ngày 26/10/1944.
3. Đoạn hồi ký này do họa sĩ Nguyễn Trọng Hợp viết theo gợi ý của Quang Việt, đã được giới thiệu lần đầu tiên trong sách “Hội họa sơn mài Việt Nam”, Nhà xuất bản Mỹ thuật, 2006.
 

Tác giả bài viết: Đào Văn Tuyên

Nguồn tin: sưu tầm

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Văn bản mới

Kế hoạch trường học công viên

Kế hoạch trường học công viên

Thời gian đăng: 04/12/2018

lượt xem: 7 | lượt tải:3

kế hoạch trải nghiệm

kế hoạch trải nghiệm

Thời gian đăng: 04/12/2018

lượt xem: 8 | lượt tải:6

NV9

Giao an van 9

Thời gian đăng: 05/12/2018

lượt xem: 5 | lượt tải:0

KT V9 1T

kiem tra 1T van 9

Thời gian đăng: 05/12/2018

lượt xem: 8 | lượt tải:0

GIÁO ÁN SỬ 9

GIÁO ÁN SỬ 9

Thời gian đăng: 03/12/2018

lượt xem: 6 | lượt tải:4

BIÊN BẢN HNCBCC

BIÊN BẢN HNCBCC

Thời gian đăng: 03/12/2018

lượt xem: 8 | lượt tải:4

Giáo án Sinh 6

Giáo án Sinh 6

Thời gian đăng: 03/12/2018

lượt xem: 8 | lượt tải:4

Kĩ năng sống lớp 6

Kĩ năng sống lớp 6

Thời gian đăng: 03/12/2018

lượt xem: 5 | lượt tải:6

Toán 7

Toán 7

Thời gian đăng: 04/12/2018

lượt xem: 8 | lượt tải:5

Giáo án Sinh học 6

Giáo án Sinh học 6

Thời gian đăng: 04/12/2018

lượt xem: 7 | lượt tải:6
Quảng cáo 2
Thăm dò ý kiến

Cảm ơn bạn đã ghé thăm Website. Bạn biết trang của chúng tôi qua:

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây